mở đầu, chúng tôi khái quát hai vấn đề này thành hệ thống làm cơ sở lý luận cho việc lý giải sự hình thành và phát triển của văn hoá ứng xử của ngƣời Quan họ nói chung và văn hoá ứng xử của ngƣời Quan họ thông qua lời ca dân ca Quan họ cổ nói riêng. Văn hóa và văn hóa ứng xử Nói đến văn hóa là nói đến hàng nghìn định nghĩa khác nhau. Tùy quốc gia, tùy dân tộc, tùy vùng miền… mà hình thành nên những nét đẹp văn hóa. Theo từ điển “Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia” thì văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra.
Về khái niệm văn hóa: Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngƣỡng, phong tục, lối sống.
Cũng theo “Đại từ điển tiếng Việt” của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, Nhà 13 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử". Còn trong “Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học”, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đƣa ra một loạt quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên xã hội”.32] “Văn hóa là những hoạt động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát), văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xƣa, đƣợc xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn” [12, tr. Đồng ý kiến này, hai cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: “Văn hóa - vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con ngƣời trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con ngƣời nơi đó có văn hóa” [12, tr. Và trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình” [49, tr. Cuối cùng, nhận xét về văn hóa, tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO có viết: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia” [3].
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng văn hóa là tất cả 14 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. những giá trị vật thể và phi vật thể do con ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Nhƣ vậy, văn hoá là một phạm trù rất rộng có liên quan tới quá trình nhận thức và phát triển của loài ngƣời.
Một trong khía cạnh biểu hiện của văn hoá đó là sự ứng xử. Sự ứng xử của mỗi xã hội, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều khác nhau, do đó hình thành nét riêng, độc đáo mang đặc tính, đặc điểm của xã hội, dân tộc, quốc gia đó, mà chúng ta thƣờng gọi là văn hoá ứng xử. Bàn về văn hóa ứng xử, theo ý kiến của Tiến sĩ mỹ học Phạm Thế Hùng thì “Văn hóa ứng xử là sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng ngƣời trong việc ứng xử và giải quyết mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, với xã hội và từ vi mô đến vĩ mô” [12, tr. Văn hoá ứng xử của ngƣời Việt đã đƣợc hình thành trong quá trình giao tiếp qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc.
Cái đẹp trong văn hoá ứng xử đƣợc cha ông ta lƣu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khac. Ngày nay mặc dù xã hội đã có nhiều thay đổi nhƣng giao tiếp ứng xử vẫn có tầm quan trọng đặc biệt. Nó tạo nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cƣ, trong tình bạn, tình yêu, trong gia đình, trong nhà trƣờng, trong kinh doanh, đàm phán - thƣơng lƣợng khi có những bất đồng có thể dẫn đến xung đột. Giao tiếp ứng xử có văn hoá, có đạo đức là cơ sở để có những mối quan hệ thân thiện trong cộng đồng, quan hệ tình nghĩa trong gia đình, quan hệ hợp tác trong kinh doanh, là cơ sở để tạo ra mội trƣờng xã hội có lơi cho sức khoẻ của con ngƣời.
Trong cuộc sống hàng ngày ngƣời Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề giao tiếp, ngƣời Việt Nam do thiên về tình hơn về lý nên khi giao tiếp con ngƣời luôn đề cao vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ để đảm bảo cho sự đoàn kết nhất trí, cho cuộc sống vui vẻ hài hoà. Đề cập tới vấn đề này, trong ca dao Việt Nam có câu: 15 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. “Lời nói chăng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Ngƣời Việt Nam luôn nhắc nhở nhau khi giao tiếp, nói năng phải cân nhắc lựa chọn, tránh kiểu hành xử khiếm nhã làm mất lòng ngƣời khác.
Ông cha ta luôn dạy con cháu: “Ăn phải nhai, nói phải nghĩ” Hơn nữa ngƣời Việt luôn coi trọng nghĩa tình, những lúc khó khăn, có công có việc ngƣời ta đến với nhau vì tình chứ không phải vì vật chất, nên trong văn hoá ứng xử, ngƣời Việt rất coi trọng tinh thần, đặt cái tình, cái nghĩa lên hàng đầu. Cái đẹp trong văn hoá ứng xử của con ngƣời Việt Nam là cái đẹp mang tính nhân dân, phục vụ đại đa số nhân dân. Cái đẹp mang tính dân tộc, nó phản ánh cái đẹp riêng của con ngƣời Việt Nam. Cái đẹp đó còn mang tính nhân loại vì nó là tia sáng mà tất cả mọi ngƣời trên hành tinh này muốn hƣớng tới.
Cái đẹp đó đậm đà bản sắc dân tộc, bởi bản sắc đó là cái lõi, cái hồn đất, hồn nƣớc, tinh hoa của dân tộc. Trong những đặc tính mang đậm nhất sắc thái truyền thống của ứng xử xã hội thì thế ứng xử là nét hoa tinh tế nhất trong các nét đặc sắc. Đặc biệt nét văn hóa này đƣợc biểu hiện rất rõ, đƣợc cô đọng và đúc kết trong hai loại hình nổi bật của văn hoá dân gian Việt Nam, đó là ca dao và tục ngữ. Thế ứng xử trƣớc hết là sự thể hiện triết lý sống của một cộng đồng ngƣời và đã mặc nhiên trở thành một quan niệm sống, quan niệm lý giải cuộc sống và mặc nhiên cũng trở thành lối sống, nếp sống, lối hành động của cả một cộng đồng ngƣời.
Văn hoá ứng xử cũng nhƣ cách ứng xử có văn hoá đƣợc hình thành từ rất sớm và ngày càng phong phú. Nó bao gồm hàng loạt hệ thống: ứng xử trong gia đình, trong họ mạc làng xã, giữa các dòng họ, giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa tình yêu đôi lứa… Đạo lý của nhân dân ta trong giao tiếp ứng xử là quan hệ trên dƣới tôn kính. Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con ngƣời trƣớc sự tác động của ngƣời khác với mình trong một tình huống nhất định 16 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107.
đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con ngƣời nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau. Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những ngƣời chung quanh. Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con ngƣời, đƣợc thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con ngƣời đối với bản thân, với những ngƣời chung quanh, trong công việc và môi trƣờng hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó đƣợc hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trƣởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội.
Hành vi ứng xử văn hóa đƣợc coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân đƣợc thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó. Nó đƣợc biểu hiện trong mối quan hệ với những ngƣời chung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ. Đối với ngƣời Quan họ xứ Kinh Bắc, văn hóa ứng xử là nét đẹp trong cộng đồng mà ở họ đƣợc gìn giữ. Qua bao đời trong đời sống sinh hoạt thể hiện rõ nhất qua hoạt động văn hóa Quan họ, trở thành yếu tố đặc sắc không thể thiếu của dân ca Quan họ.