Tổng quan nghiên cứu
Di sản văn hóa phi vật thể là tài sản vô giá kết tinh từ chiều sâu lịch sử, đóng vai trò cốt lõi trong việc định vị bản sắc dân tộc và bồi đắp sức mạnh tinh thần cho cộng đồng. Tại vùng đất cội nguồn Phú Thọ với diện tích tự nhiên 3.533,4 km2 gồm 13 huyện, thành, thị, nghệ thuật hát Xoan nổi lên như một biểu tượng văn hóa dân gian đặc sắc, gắn liền với thời đại Hùng Vương dựng nước. Tuy nhiên, trước tác động sâu sắc của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ chế thị trường sau năm 1986, không gian diễn xướng cùng các làn điệu Xoan cổ đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Nhận thức rõ thực trạng cấp bách đó, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã ban hành và chỉ đạo triển khai nhiều chủ trương, giải pháp toàn diện nhằm bảo vệ vốn quý của cha ông.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hát Xoan trong giai đoạn 11 năm (từ năm 2000 đến năm 2011). Luận văn đi sâu tổng kết thực tiễn chỉ đạo, phân tích các thành tựu đạt được trong việc củng cố 4 phường Xoan gốc, khôi phục không gian diễn xướng tại 21 làng có tục hát Xoan, đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế và đúc kết bài học kinh nghiệm quý báu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ lịch sử xác thực, minh chứng cho sự chuyển biến vượt bậc từ nhận thức đến hành động chính trị. Đỉnh cao của tiến trình này là sự kiện ngày 24/11/2011, khi UNESCO chính thức ghi danh Hát Xoan Phú Thọ vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp, tạo cơ sở chiến lược để tỉnh tiếp tục quy hoạch bảo tồn bền vững trong giai đoạn mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc, khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội. Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ban hành vào tháng 7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giữ vai trò kim chỉ nam xuyên suốt công trình. Khung lý thuyết của luận văn dựa trên 4 khái niệm then chốt được thể chế hóa trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009:
- Di sản văn hóa phi vật thể: Sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng, được lưu truyền qua phương thức truyền miệng, truyền nghề, trình diễn dân gian.
- Bảo tồn di sản: Hoạt động gìn giữ tính nguyên gốc, tính chân xác và không gian văn hóa lịch sử của di sản.
- Phát huy giá trị di sản: Việc khai thác các giá trị tinh thần, giáo dục truyền thống, kết hợp phát triển kinh tế du lịch một cách bền vững.
- Phường Xoan truyền thống: Tổ chức diễn xướng dân gian mang tính lề lối chặt chẽ, do một ông Trùm điều hành cùng 12 đến 18 đào, kép thực hiện các nghi thức tế lễ và hát hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng, bao gồm hệ thống văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ từ năm 2000 đến năm 2011; các báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; kết hợp tư liệu thành văn từ các công trình nghiên cứu âm nhạc dân gian của nhiều thế hệ học giả.
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic. Việc lựa chọn phương pháp lịch sử giúp tái hiện trung thực, khách quan toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh theo dòng thời gian cụ thể; trong khi phương pháp logic hỗ trợ việc phân tích bản chất, quy luật vận động và mối quan hệ biện chứng giữa chủ trương chính trị với kết quả thực tiễn. Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp bổ trợ như phân tích - tổng hợp, so sánh thống kê và xử lý tư liệu điền dã.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích đối với 100% các chủ thể di sản cốt lõi. Cụ thể, mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 4 phường Xoan cổ (Phù Đức, Kim Đới, Thét thuộc xã Kim Đức và An Thái thuộc xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì), điều tra toàn diện nhóm hơn 100 nghệ nhân, đồng thời rà soát thực trạng hạ tầng của 30 di tích đình làng từng diễn ra sinh hoạt hát Xoan trên địa bàn tỉnh. Dữ liệu được thu thập và thẩm định chặt chẽ trong suốt tiến trình nghiên cứu kéo dài từ năm 2000 đến năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo cứu thực chứng đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về thực trạng và kết quả bảo tồn di sản hát Xoan dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ:
- Sự thiếu hụt trầm trọng của đội ngũ nghệ nhân truyền dạy trước năm 2006: Số lượng người tham gia các câu lạc bộ dân ca Xoan khoảng hơn 100 người nhưng chỉ có 50 người thực sự nắm vững kỹ thuật hát. Trong tổng số các nghệ nhân cao tuổi, có 26 người trên 80 tuổi (chiếm 26%), 38 người từ 60 đến 80 tuổi (chiếm 38%), còn lại dưới 60 tuổi chiếm 36%. Tuy nhiên, toàn tỉnh chỉ có đúng 10 nghệ nhân đủ năng lực và bài bản để truyền dạy trực tiếp cho thế hệ trẻ, tạo nên sự đứt gãy thế hệ diễn xướng.
- Sự thu hẹp nghiêm trọng của không gian văn hóa cửa đình: Trong tổng số 30 cửa đình vốn là không gian diễn xướng hát Xoan cổ truyền, chỉ có 13 di tích duy trì được điều kiện tổ chức (tương đương 43,3%), 2 di tích bị xuống cấp nặng nề (tương đương 6,7%) và có tới 15 di tích mất hoàn toàn không gian trình diễn (chiếm 50,0%).
- Bước chuyển biến mang tính đột phá giai đoạn 2006-2011: Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, ngày 15/02/2006, Quyết định số 349/QĐ-VHTT đã chính thức công nhận làng Xoan An Thái là phường Xoan cấp tỉnh. Tỉnh đã tổ chức các lớp tập huấn bài bản cho hơn 100 hạt nhân văn nghệ tại 3 huyện trọng điểm gồm Phù Ninh, Lâm Thao và Thanh Ba, từng bước gây dựng lại phong trào hát Xoan cơ sở.
- Huy động nguồn lực đầu tư và lập hồ sơ đệ trình UNESCO: Tỉnh Phú Thọ đã phối hợp quản lý hiệu quả nguồn ngân sách 865,42 tỷ đồng chống xuống cấp cho 506 lượt di tích, kết hợp nguồn vốn xã hội hóa khoảng 145 tỷ đồng mỗi năm giai đoạn 2006-2008. Công tác chuẩn bị hồ sơ khoa học được thực hiện thần tốc thông qua Kế hoạch số 18/KH-SVHTTDL và Quyết định số 141/QĐ-SVHTTDL ngày 08/06/2009, đưa hồ sơ Hát Xoan Phú Thọ được ghi danh quốc tế vào năm 2011.
Thảo luận kết quả
Thành công của công tác bảo tồn bắt nguồn từ năng lực thể chế hóa đường lối của Đảng thành các chính sách quản lý nhà nước kịp thời, tiêu biểu như Chỉ thị số 17/2005/CT-UBND, Nghị quyết số 56/2003/NQ-HĐND và Nghị quyết số 179/2009/NQ-HĐND. Những quyết sách này đã giải quyết căn cơ bài toán cân bằng giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế.
THỰC TRẠNG 30 CỬA ĐÌNH HÁT XOAN (GIAI ĐOẠN 2000 - 2005)
+------------------------------------+------------+------------+
| Hiện trạng không gian di tích | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
+------------------------------------+------------+------------+
| Đảm bảo môi trường diễn xướng | 13 di tích | 43.3% |
| Bị xuống cấp nghiêm trọng | 2 di tích | 6.7% |
| Mất hoàn toàn không gian diễn xướng| 15 di tích | 50.0% |
+------------------------------------+------------+------------+
| Tổng số di tích khảo sát | 30 di tích | 100.0% |
+------------------------------------+------------+------------+
Về mặt dữ liệu học thuật, cấu trúc phân bổ độ tuổi nghệ nhân có thể được trực quan hóa qua biểu đồ hình quạt với tỷ lệ nghệ nhân trên 60 tuổi chiếm tới 64% tổng lực lượng nắm giữ di sản, làm nổi bật nguy cơ thất truyền nếu không có chính sách can thiệp khẩn cấp. Bảng phân loại 30 di tích cửa đình thể hiện trực tiếp sự tàn phá của thời gian và chiến tranh đối với môi trường diễn xướng.
So sánh với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào khía cạnh âm nhạc học hoặc văn hóa dân gian thuần túy, luận văn đã tạo bước đột phá khi tiếp cận di sản dưới góc độ lịch sử chính trị và quản lý văn hóa. Kết quả chứng minh rằng việc kết hợp chặt chẽ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, sự đồng thuận của nhân dân và sự hỗ trợ học thuật của giới chuyên gia là điều kiện tiên quyết để chuyển hóa một di sản đang đứng trước bờ vực mai một thành tài sản văn hóa được quốc tế công nhận.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả đánh giá thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị hát Xoan trong giai đoạn tiếp theo:
- Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và tôn vinh nghệ nhân: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cần ban hành quy chế hỗ trợ sinh hoạt định kỳ bằng 1,5 đến 2 lần mức lương cơ sở cho 100% nghệ nhân ưu tú và nghệ nhân nhân dân nắm giữ bài bản Xoan cổ; đồng thời cấp kinh phí hoạt động từ 30 đến 50 triệu đồng mỗi năm cho từng phường Xoan gốc duy trì lớp truyền dạy cộng đồng. Timeline thực hiện: Hoàn thành trong giai đoạn 2015-2016 và duy trì hằng năm.
- Phục dựng và quy hoạch không gian diễn xướng cửa đình: Sở Xây dựng phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng chính quyền địa phương tiến hành tu bổ, tôn tạo 17 di tích đình miếu bị hư hỏng hoặc mất không gian diễn xướng; đặt mục tiêu đến năm 2020 có tối thiểu 80% di tích lịch sử gắn với 4 phường Xoan gốc được phục hồi nguyên trạng. Timeline thực hiện: 2015-2020.
- Đẩy mạnh giáo dục di sản trong học đường: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các nghệ nhân biên soạn tài liệu giảng dạy dân ca Xoan nhập môn, triển khai đưa vào chương trình giáo dục địa phương tại 100% các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì và huyện Phù Ninh với thời lượng tối thiểu 2 tiết mỗi tháng. Timeline thực hiện: Áp dụng từ năm học 2015-2016.
- Phát triển sản phẩm du lịch di sản đặc thù: Trung tâm Xúc tiến Du lịch và các doanh nghiệp lữ hành xây dựng từ 2 đến 3 tour du lịch trải nghiệm chuyên đề "Hát Xoan làng cổ" gắn liền với quần thể Di tích Lịch sử Đền Hùng, hướng tới chỉ tiêu tăng trưởng lượng khách du lịch văn hóa từ 15% đến 20% mỗi năm. Timeline thực hiện: Triển khai định kỳ hàng năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị khoa học và thực tiễn phong phú, phù hợp với 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:
- Cán bộ lãnh đạo và cơ quan hoạch định chính sách: Cán bộ ngành Văn hóa, Ban Tuyên giáo các cấp có thể tham khảo mô hình ban hành hơn 40 nghị quyết, chỉ thị, đề án của tỉnh Phú Thọ để áp dụng vào công tác thể chế hóa đường lối văn hóa và xây dựng hồ sơ di sản đệ trình các tổ chức quốc tế.
- Nhà nghiên cứu Lịch sử Đảng và Văn hóa học: Các nhà khoa học có thể khai thác hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, nguồn dữ liệu điền dã phong phú từ 4 phường Xoan gốc (Phù Đức, Kim Đới, Thét, An Thái) phục vụ việc phân tích quá trình chuyển biến chính sách văn hóa thời kỳ đổi mới.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên: Giảng viên và người học các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn có thể sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp kết hợp lịch sử - logic trong nghiên cứu quản lý văn hóa trên địa bàn lãnh thổ 3.533,4 km2 của tỉnh Phú Thọ.
- Chuyên gia quản trị du lịch và doanh nghiệp lữ hành: Các đơn vị kinh doanh du lịch có thể khai thác dữ liệu về 30 không gian diễn xướng và hệ thống lề lối hát Xoan để thiết kế các sản phẩm du lịch văn hóa trải nghiệm giàu bản sắc.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Hát Xoan Phú Thọ từng bị đưa vào danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2011?
Hát Xoan rơi vào tình trạng nguy cấp do thời điểm năm 2011 chỉ còn đúng 10 nghệ nhân cao tuổi có khả năng truyền dạy bài bản cổ, trong đó 26 nghệ nhân đã trên 80 tuổi. Thêm vào đó, có tới 15 trên tổng số 30 cửa đình bị mất hoàn toàn không gian diễn xướng, khiến di sản đứng trước nguy cơ đứt gãy thế hệ tiếp nối.
Bốn phường Xoan gốc được phục hồi và duy trì hoạt động tại Phú Thọ gồm những đơn vị nào?
Bốn phường Xoan cổ nằm trên địa bàn thành phố Việt Trì gồm phường Phù Đức, phường Kim Đới, phường Thét (thuộc xã Kim Đức) và phường An Thái (thuộc xã Phượng Lâu). Mỗi phường Xoan duy trì quy mô tổ chức chuẩn mực từ 12 đến 18 nghệ nhân, đào và kép, luân phiên thực hiện tục giữ cửa đình và giao lưu kết nghĩa vào mùa xuân.
Vai trò lãnh đạo nổi bật nhất của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2000-2011 là gì?
Đảng bộ tỉnh đã kịp thời ban hành các nghị quyết then chốt như Nghị quyết số 56/2003/NQ-HĐND và Nghị quyết số 179/2009/NQ-HĐND, chỉ đạo phân bổ hàng trăm tỷ đồng tu bổ di tích, đồng thời lãnh đạo thành lập Ban xây dựng hồ sơ khoa học theo Quyết định số 141/QĐ-SVHTTDL, giúp di sản được UNESCO công nhận vào ngày 24/11/2011.
Nguồn kinh phí hỗ trợ bảo tồn và tôn tạo di tích hát Xoan được huy động ra sao?
Tỉnh Phú Thọ đã kết hợp hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước 865,42 tỷ đồng để chống xuống cấp cho 506 lượt di tích, song song với việc đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa, huy động bình quân khoảng 145 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2006-2008 từ sự đóng góp tự nguyện của nhân dân và các tổ chức xã hội.
Điểm khác biệt cơ bản giữa Hát Xoan và các thể loại dân ca khác ở vùng đất Tổ là gì?
Hát Xoan là hình thức dân ca nghi lễ - phong tục gắn chặt với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và thờ cúng Hùng Vương. Diễn xướng Xoan tuân thủ lề lối nghiêm ngặt theo 3 chặng: Hát Nghi lễ (hát thờ), Hát Quả cách (14 quả cách mang tính nghệ thuật cao) và Hát Hội (giao duyên nam nữ trữ tình), mang tính cộng đồng sâu sắc.
Kết luận
- Khẳng định tính đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong công tác lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hát Xoan từ năm 2000 đến năm 2011.
- Ghi nhận mốc son lịch sử ngày 24/11/2011 khi hồ sơ Hát Xoan Phú Thọ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp.
- Củng cố vững chắc nền tảng thực hành di sản thông qua việc phục hồi 4 phường Xoan gốc, tập huấn cho hơn 100 hạt nhân văn nghệ và bảo tồn 13 không gian cửa đình truyền thống.
- Đóng góp hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn cho công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng bộ địa phương, định hướng quy hoạch văn hóa tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2020.
- Kêu gọi các cơ quan quản lý, cộng đồng học thuật và toàn thể nhân dân tiếp tục chung sức thực hiện các cam kết quốc tế, tạo đà đưa Hát Xoan Phú Thọ chuyển đổi thành công sang danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.