Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI LIM Ở BẮC NINH HIỆN NAY 1. Lễ hội trong đời sống của người Việt 1. Quan niệm về lễ hội, lễ hội cổ truyền Lễ hội Việt Nam là đất nước có nền văn hóa lâu đời, nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán mang bản sắc riêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo.; góp phần làm lên một nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc. Trong đó, lễ hội là yếu tố vừa mang nét đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm cho văn hóa của dân tộc Việt ngày càng phong phú và đặc sắc hơn.
Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu. Thực tế đã xuất hiện một số ý kiến hoặc nói về chung lễ hội, hoặc nói riêng về từng phần lễ hay hội trong cấu trúc lễ hội. Các ý kiến đó dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại. Lễ hội theo học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương thì gọi là đại hội (vào đám hay vào hội) [1, tr.
Về sau, nhiều học giả đã thay thuật ngữ này bằng các thuật ngữ tương đương. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu qua tên sách, tên bài viết đã có nhiều cách gọi khác nhau. Toan Ánh trong cuốn sách “Nếp cũ hội hè đình đám” quan niệm: hội hè đình đám là những cuộc tổ chức hội họp tại các thôn xã nhân dịp vào đám và trong dịp đám này có nhiều trò mua vui cho dân thôn giải trí [2, tr. Quan niệm trên đã nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của các hoạt động vui chơi, sinh hoạt tập thể có ý nghĩa giải trí, các yếu tố thuộc về nghi thức mang tính tâm linh tín ngưỡng thì chưa được đề cập sâu.
11 Theo Bùi Thiết, “Lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi lễ, hội là các hoạt nghi lễ đạt trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hóa truyền thống” [91, tr. Khác với Bùi Thiết, Thu Linh cho rằng: “Lễ (cuộc lễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lệ trong các dịp này trở thành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một cách nghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình độ một “cải diễn hóa” cùng với không khí trang nghiêm đóng vai trò chủ đạo. Đây chính là điểm giao thoa giữa lễ với hội, và có lẽ cũng vì vậy người ta thường nhập hai từ lễ hội” [52, tr. Theo Nguyễn Quang Lê, thì bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ thống đan quện và giao thoa với nhau: 1) Hệ thống lễ: Bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc.
Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (các nhiên thần và nhân thần), do chính con người tưởng tượng ra và họ cầu mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình. 2) Hệ thống hội: Bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian.- chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng [49, tr. Bên cạnh đó, theo Phạm Quang Nghị: “Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có tính phổ biến trong cộng đồng xã hội, có sức lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ tiền nhân để lại cho hôm nay, lễ hội chứa đựng những mong ước thiết tha vừa thánh thiện, vừa đời thường, vừa thiêng liêng, vừa thế tục của bao thế hệ con người”[66, tr.
Giáo sư Đinh Gia Khánh quan niệm: “Đặc điểm cơ bản của văn hóa dân gian (trong đó có lễ hội) là tính nguyên hợp. tức nói rằng quan hệ nghệ thuật ấy 12 người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt” [42, tr. Tác giả Trần Bình Minh cho rằng: “Lễ và hội hòa quện, xoắn xít với nhau để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của một cộng đồng. Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ” [69, tr.
Còn nghiên cứu về “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch”, Dương Văn Sáu cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội” [81, tr. Nguyễn Tri Nguyên khẳng định: “Lễ hội là sự thể hiện, là sự phát lộ của ký ức văn hóa dân tộc. Giống như gien di truyền, ký ức văn hóa chứa đựng hàm lượng thông tin các giá trị văn hóa của quá khứ qua các truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc và sự đa dạng văn hóa, cũng thiết yếu đối với sự sống con người tựa như sự đa dạng sinh học trong thế giới tự nhiên” [68, tr. 54 - 56]… Như vậy, dù có khác nhau về cách diễn đạt, song các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là mặt thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thường).
Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thức như sau: Lễ: Là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội: Là tập hợp các trò diễn có tính nghi thức, các cuộc vui chơi, giải trí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia. Là đời sống văn hóa hàng ngày 13 và một phần đời sống của cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỷ niệm một sự kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Lễ hội là sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay và nó được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng.
Lễ và hội luôn gắn kết chặt chẽ với nhau, không có lễ thì sẽ không có hội. Lễ hội thuộc phạm trù thiêng liêng của thế giới linh thiêng. Ngôn ngữ lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu thường nhật. Vì vậy, phần hội luôn gắn với phần lễ, là bộ phận sinh thái của phần lễ, nó gắn với cái thiêng liêng, với các vị thần, nhân vật mà con người thờ phụng.
Các sinh hoạt vui chơi, giải trí, trò diễn trong lễ hội mang tính nghi lễ phong tục chứ không phải là trò chơi, trò diễn thuần túy trần tục (mà trò diễn ở đây đã được thiêng liêng hóa). Lễ hội cổ truyền Lễ hội cổ truyền là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, vừa độc đáo, vừa phong phú đa dạng của dân tộc Việt Nam, vốn có nguồn gốc phát sinh và phát triển từ rất lâu đời trong lòng lịch sử văn hóa nước nhà. Có thể coi lễ hội cổ truyền là hình ảnh thu nhỏ của nền văn hóa dân gian cổ truyền dân tộc. Bởi lẽ, trong lễ hội cổ truyền bao hàm hầu như đầy đủ các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, như: Về văn học dân gian: có truyền thuyết, thần thoại, thần tích, thần phả, văn tế, văn bia, hoành phi câu đối, ca dao, hò vè.
Về nghệ thuật biểu diễn dân gian: có diễn xướng, sân khấu dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc. Về tôn giáo: có phong tục và tín ngưỡng dân gian gồm các nghi lễ, nghi thức, trò chơi, trò diễn, trò chơi dân gian, tục lệ, đối tượng thờ cúng, đức tin và kỵ hèm dân gian. Do vậy, lễ hội cổ truyền không chỉ là một hiện tượng văn hóa dân gian, mà còn là một hiện tượng lịch sử xã hội. Nó phản ánh khá trung thực và rõ nét cốt cách, bản lĩnh 14 và bản sắc dân tộc, cùng với tâm linh, nguyện vọng của nhân dân trong suốt thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt.
Lễ hội cổ truyền ra đời, được bảo tồn và phát huy trong lòng lịch sử - văn hóa dân tộc, phản ánh khá đầy đủ và rất sinh động đời sống văn hóa - xã hội đã trải qua. Nhiều yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội cổ truyền bảo lưu và truyền tụng từ đời này sang đời khác, thực sự trở thành di sản văn hóa truyền thống vô giá. Đó chính là kho tàng các giá trị thuộc về tinh hoa văn hóa, phản ánh rõ nét bản lĩnh và bản sắc dân tộc Việt Nam. Khái niệm cổ truyền được Từ điển tiếng Việt cắt nghĩa như sau: “Cổ: Thuộc về thời xa xưa trong lịch sử”; “Truyền: Để lại cái mình đang nắm giữ cho người khác, thường thuộc thế hệ sau”; “Cổ truyền: Từ xưa truyền lại, vốn có từ xưa” [112, tr.
Trong cuốn sách “Lễ hội cổ truyền”, Phan Đăng Nhật cho rằng: “Lễ hội cổ truyền là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc” và lễ hội “còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt. Chúng đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất”; “Hội lễ là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử, trong quá khứ, dồn nén lại cho đương thời” [111, tr.