đặt vấn đề tìm hiểu quá trình tiếp xúc và giao lƣu văn hóa Việt - Hoa trong lịch sử. Theo tác giả, khác với nhiều thành phần dân tộc cƣ trú ở Việt Nam, cộng đồng ngƣời Hoa là một dân tộc “phi nguyên trú”, họ di cƣ từ các tỉnh phía Nam Trung Hoa sang. Đến nay, ngƣời Hoa ở Hội An thực sự đã trở thành một lực lƣợng buôn bán chính và là một lực lƣợng môi giới quan trọng trong quá trình giao lƣu thƣơng mại giữa Việt Nam và các nƣớc trong khu vực và trên thế giới; góp phần vào quá trình định hình bộ mặt đô thị thƣơng mại Hội An [123]. Giai đoạn sau 1986, một số công trình nghiên cứu sớm về ngƣời Hoa có thể kể đến: Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mạc Đƣờng, “Dân tộc Hoa” in trong sách Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb.
Văn hóa, H, 1959; Mạc Đƣờng, “Ngƣời Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Dân tộc học, số 2-1987; Phan Xuân Biên, Phan An, “Về vị trí ngƣời Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 1-1989;… Trong đó Mạc Đƣờng với chuyên khảo Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 (tiềm năng và phát triển) (Nxb. KHXH, 1994) là công trình phân tích xã hội đầu tiên nói về những quá trình biến đổi xã hội sau năm 1975 ở vùng ngƣời Hoa, sự hình thành xã hội công dân và sự phát triển ý thức công dân của ngƣời Hoa qua những thời gian lịch sử đƣơng đại. Tác giả phân tích theo quan điểm những nhân tố nội sinh và ngoại sinh, những bối cảnh xung đột tâm lý, quá trình xây dựng, ổn định và phát triển ý thức công dân Việt Nam đối với ngƣời Hoa trong khoảng thời gian 20 năm. Mạc Đƣờng đã phân tích những khó khăn trở ngại của việc phát triển văn hóa mang bản sắc riêng của ngƣời Hoa những năm đầu sau 1975.
Sự phát triển bản sắc văn hóa của ngƣời Hoa cũng gặp phải những nhận thức định kiến ngăn trở. Do những hậu quả của các chính sách đối với ngƣời Hoa trƣớc năm 1975 trong xã hội cũ và do những hoạt động lôi cuốn ngƣời Hoa vào cộng đồng kiều dân Trung Hoa ở nƣớc ngoài sau năm 1975 với một mục đích chính trị đề cao tƣ tƣởng dân tộc lớn và bành trƣớng lãnh thổ càng làm cho tâm lý kỳ thị dân tộc gia tăng [45; tr. 14 Bên cạnh đó là công trình của các tác giả Ngô Văn Lệ và Nguyễn Duy Bính, Người Hoa ở Nam Bộ, Nxb. Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, 2005. Cuốn sách cung cấp những nét khái quát và cập nhật (cho đến thời điểm xuất bản của công trình) về cộng đồng ngƣời Hoa ở vùng đất đầy tiềm năng của Việt Nam, đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh tiêu biểu của cộng đồng năm nhóm Hoa: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ. Ngƣời Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ở Nam Bộ nói chung đƣợc các tác giả phân tích từ nhiều góc độ: lịch sử hình thành, hoạt động kinh tế, những thiết chế và nghi lễ trong hôn nhân gia đình của ngƣời Hoa trong truyền thống cũng nhƣ ở hiện đại, qua đó thấy đƣợc tính kế thừa và tính thích nghi của họ trong điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa ở một vùng đất mới. Khi nghiên cứu về tín ngƣỡng ngƣời Hoa, các công trình đã xuất bản phần nhiều đề cập đến vai trò tín ngƣỡng trong đời sống tinh thần ngƣời Hoa, đặc biệt khi di cƣ đến vùng đất mới.
Tác giả Trần Hồng Liên đã quan tâm đến văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Hoa ở Việt Nam với công trình Văn hóa người Hoa ở Nam bộ, Tín ngưỡng và Tôn giáo (2005). Trong phần “Hội nhập và giao lƣu văn hóa của ngƣời Hoa ở Việt Nam (trên lĩnh vực tín ngƣỡng - tôn giáo)”, những vấn đề khái quát về quá trình du nhập và định cƣ của ngƣời Hoa ở Việt Nam; những điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa tác động đến quá trình hội nhập; hội nhập văn hoá trên lĩnh vực tín ngƣỡng tôn giáo,. đã đƣợc tác giả nêu bật và có những nhận xét xác đáng. Riêng tín ngƣỡng tôn giáo, tác giả khẳng định rằng: trong đời sống của ngƣời Hoa ở Việt Nam, vấn đề tín ngƣỡng khá phong phú và đa dạng.
Ngƣời Hoa tin có linh hồn và con ngƣời sau khi chết sẽ bị phạt hay khen thƣởng tùy vào hành động, công đức của ngƣời đó trong cuộc sống hiện tại. Vì vậy, ngƣời Hoa đã tích cực thờ phụng những thần linh trú ngụ thuộc các cảnh giới để cầu mong đƣợc nhiều sự hỗ trợ. “Tín ngƣỡng trong đời sống cộng đồng ngƣời Hoa ở Nam bộ phong phú, thể hiện qua nhiều cung, miếu, điện, đàn, đƣờng, từ đƣờng, đền thờ họ”; “Đa số cơ sở đƣợc hình thành do từng nhóm Hoa thuộc một hoặc nhiều ngôn ngữ 15 lập nên, nhƣ miếu của nhóm Hoa Quảng Đông, Miếu Nhị Phủ (thuộc hai phủ của ngƣời Hoa tỉnh Phúc Kiến là phủ Chƣơng Châu và Tuyền Châu); Thất Phủ miếu (của cộng đồng Hoa thuộc 7 phủ lập nên)” [211]. Thầy thuốc ƣu tú Bác sĩ Nguyễn Võ Hinh ngƣời dân tộc Hoa ở Việt Nam cho biết: “Ngƣời dân tộc Hoa tại Việt Nam là những ngƣời gốc Trung Quốc định cƣ ở Việt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam.
Họ còn có các tên gọi khác là Khách, Hán, Tàu và có các nhóm dân khác nhau nhƣ Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hƣơng, Hẹ,. Dân tộc Hoa sử dụng tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán - Tạng. Nếu xếp theo phân loại của nƣớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì họ đƣợc gọi là dân tộc Hán. Đây là một trong hai dân tộc duy nhất tại Việt Nam có dân số giảm trong vòng 10 năm, từ năm 1999 đến năm 2009 theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam” [71].
Nội dung bài viết đã khái quát sơ lƣợc về lịch sử dân tộc Hoa tại Việt Nam; dân số, địa bàn cƣ trú, ngôn ngữ; các tên gọi của dân tộc Hoa; đặc điểm kinh tế, tổ chức cộng đồng; hôn nhân gia đình, tục lệ ma chay, thờ cúng; văn hóa, phong tục tập quán. Nghiên cứu về ngƣời Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh còn có bài viết của Vũ Lê là “Văn hóa người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh” (2004) đã sƣu tầm khá đầy đủ các giá trị văn hóa của ngƣời Hoa ở nơi đây. Bài viết đã làm nổi bật quá trình ngƣời Hoa gia nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam; khái quát về ngƣời Hoa và văn hóa ngƣời Hoa với sự phát triển kinh tế - xã hội: “Có thể nói, văn hóa ngƣời Hoa với những giá trị ƣu trội của nó có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của TP. Hồ Chí Minh và Nam Bộ nói riêng, cả nƣớc nói chung.
Việc nghiên cứu văn hóa và giải pháp phát huy vai trò của nó là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn” [198]. Nghiên cứu về tín ngƣỡng của ngƣời Hoa ở Bắc Giang, tác giả Ngô Thu Hƣờng có bài viết “Đôi nét về văn hóa, tín ngưỡng của người Hoa ở Bắc Giang” đã giới thiệu khái quát về văn hóa, tín ngƣỡng của ngƣời Hoa ở tỉnh: “Bắc Giang là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó có 16 ngƣời Hoa (hay còn gọi là dân tộc Hán). Ngƣời Hoa cƣ trú chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và một số xã miền núi ở các huyện khác trong tỉnh. Ngƣời Hoa ở Bắc Giang đã có từ lâu đời, hình thành một nền văn hóa riêng với những bản sắc đặc trƣng.
Trải qua nhiều biến đổi của lịch sử, xã hội, thời gian,. nhƣng những bản sắc văn hóa của ngƣời dân tộc Hoa đến nay vẫn còn lƣu giữ, cần đƣợc bảo tồn và phát huy” [185]. Trong bài viết, một số tín ngƣỡng cũng đƣợc đề cập đến nhƣ tín ngƣỡng thờ cúng trong gia đình, tín ngƣỡng thờ cúng ở cộng đồng, các yếu tố tín ngƣỡng khác. Nguyễn Ngọc Thơ với bài viết “Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam” [211] cho rằng: tín ngƣỡng thờ Bà Thiên Hậu (Bà Ma Tổ, Bà Mã Châu) gốc Hoa Nam đã theo bƣớc di dân ngƣời Hoa đến Nam Bộ Việt Nam từ thế kỷ XVII-XIX, trở thành một dạng tín ngƣỡng thờ Mẫu khá phổ biến tại đồng bằng Nam Bộ.
Tục thờ này cùng các hoạt động văn hóa - nghệ thuật và những khía cạnh văn hóa vật thể gắn liền với nó đã sớm trở thành một “kho tàng” văn hóa dân gian, ở đó ngƣời ta gìn giữ linh hồn của truyền thống, đồng thời cũng là một kênh giáo dục đạo đức, lối sống hiệu quả và sâu sắc của ngƣời Hoa nói riêng, của các tộc ngƣời Nam Bộ nói chung. Trong mối tƣơng quan với văn hóa các dân tộc Việt, Khơ-me, Chăm trong vùng, tín ngƣỡng Thiên Hậu đã góp phần tạo nét đặc trƣng mang bản sắc ngƣời Hoa - một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, ngày càng có giá trị trong quá trình dung hợp đa văn hóa để tạo nên diện mạo văn hóa Nam Bộ Việt Nam trong suốt 300 năm qua. Bài viết đã hệ thống về nguồn gốc, quá trình phát triển và truyền bá tín ngƣỡng Thiên Hậu đến Việt Nam; hiện trạng tín ngƣỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam; tác giả Nguyễn Ngọc Thơ trong bài viết “Đặc trƣng tín ngƣỡng thờ Thiên Hậu ở đồng bằng sông Cửu Long” [157] cho biết ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay với khoảng hơn 50 miếu Thiên Hậu do ngƣời Hoa và ngƣời Việt xây dựng và tổ chức sinh hoạt tín ngƣỡng. Trong tâm thức ngƣời dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, Thiên Hậu vừa là hải thần, thần bảo vệ, mà còn là phúc thần, vị thánh mẫu từ bi, đƣợc ngƣời Việt tiếp nhận qua ngả Phật giáo và tín ngƣỡng thờ Mẫu dân 17 gian.
Có thể thấy rằng, sinh hoạt tín ngƣỡng Thiên Hậu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vừa thể hiện đặc trƣng mang tính bản sắc văn hóa ngƣời Hoa vừa là một minh chứng sống động cho quá trình hỗn dung đa văn hóa của cƣ dân vùng đất này. Do đó, bài viết này đã khảo sát hiện trạng tổ chức sinh hoạt tín ngƣỡng Thiên Hậu để làm nổi bật các đặc trƣng cơ bản của tục thờ này tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vũ Văn Chung với bài viết “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngƣỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Nam Bộ” [29].