Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cơ sở lý luận 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Quan niệm hôn nhân truyền thống người Việt Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam - mỗi một dân tộc đều có những quan niệm và tục lệ hôn nhân khác nhau, trong đó người Việt là một trong những tộc người có quan niệm và tục lệ hôn nhân vào loại đa dạng nhất. Tục lệ hôn nhân truyền thống của người Việt từ xa xưa vốn dĩ ảnh hưởng từ lễ giáo phong kiến và tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc nên rất đa dạng, phức tạp được quy định bởi bản sắc văn hoá tộc người tuy nhiên tục lệ hôn nhân của người Việt tương đối thống nhất về các lễ nghi cơ bản, đồng thời quy định việc hôn nhân là do hai bên cha mẹ và họ hàng quyết định. Đa số người Việt tổ chức hôn lễ với 3 nghi lễ chính: một là lễ chạm ngõ (nạp thái, vấn danh), hai là lễ ăn hỏi (gồm nạp cát và thỉnh kì) và ba, lễ cưới (gồm lễ nạp tệ và thân nghinh).
Cũng chính vì thế mà khái niệm hôn nhân dưới những góc độ khác nhau cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa rất khác nhau. "Trong tiếng Việt, việc trai gái lấy nhau thành vợ chồng gọi là việc hôn nhân hay việc giá thú. Hôn nhân là một danh từ để chỉ việc lấy vợ lấy chồng của đôi trai gái. Hôn nhân là ghép bởi hai từ gốc Hán là hôn và nhân, trong đó hôn là bố mẹ cô dâu, nhân là bố mẹ chú rể.
Hôn nhân là việc đôi bên cha mẹ hai gia đình lo lấy vợ gả chồng cho con. Còn giá thú được ghép từ hai từ Hán - Việt, trong đó giá là việc lấy chồng, thú là việc lấy vợ. Việc giá thú là việc đôi trai gái lấy nhau làm chồng làm vợ để lập thành gia đình. Như vậy, khi gọi là hôn nhân là đứng trên quan điểm của cha mẹ hai gia đình, còn gọi là giá thú là trên quan điểm của đôi trai gái" [Đoàn Văn Chúc, 2004].
Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 Trương Thìn cũng đề cập đến hôn nhân theo phong tục Việt trong Những điều cần biết về nghi lễ hôn nhân người Việt (2010) như sau: "Theo phong tục Việt, cái gốc của gia đình gọi là hôn nhân. Có hôn nhân mới có vợ chồng và con cái. Mục đích của hôn nhân là để duy trì gia thống nên việc lập gia đình là việc quan trọng của đại gia đình". Với những người theo phái tự nhiên và phái phân tâm học định nghĩa hôn nhân như sau: "Hôn nhân là một hiện tượng tự nhiên.
Đó là sự liên kết giữa hai con người khác giới với nhau thành một gia đình để giữ chức năng duy trì nòi giống. Hôn nhân là nét đẹp văn hoá truyền thống để kế thừa dòng dõi huyết thống và cuộc hôn nhân đó cũng đặt trên sự tự nguyện, không ràng buộc". Còn những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lại cho rằng hôn nhân trước hết là một quy chế xã hội và sau đó mới là một hiện tượng sinh học, hiện tượng tự nhiên. Nói một cách khác, hôn nhân không phải do trời cho mà nó hình thành trong quá trình phát triển của loài người, và nó cũng biến đổi theo chính sự biến đổi của quá trình đó.
Các hình thức hôn nhân trong lịch sử thường được nhắc tới là hình thức quần hôn, hôn nhân mẫu hệ, hôn nhân phụ hệ, đa thê, hôn nhân một vợ một chồng. Hôn nhân đặt trên sự tự nguyện, không ràng buộc là sự thống nhất giữa tình yêu và trách nhiệm giữa hai người. Trong quyển Đám cưới người Việt xưa và nay, theo nhà nghiên cứu Bùi Xuân Mỹ, "Trong các nền văn hóa, từ thời tiền lịch sử và cổ xưa, dưới hình thức này hay hình thức khác, hôn nhân bao giờ cũng là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà lại với nhau suốt đời, với tư cách là vợ chồng, và các tập tục trong hôn nhân, qua các thời đại , xem ra cũng đa dạng như chính các nền văn hóa mà trong đó chúng tồn tại. Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên (1988), đưa ra một khái niệm ngắn gọn: "Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng".
Trong công trình nghiên cứu "Gia đình truyền thống - một số tư liệu nghiên Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 cứu Xã hội học" (1977), tác giả Khuất Thu Hồng cho rằng hôn nhân, thứ nhất, chỉ quá trình chung sống trong hôn thú của một cặp vợ chồng, với nghĩa này, hôn nhân là một thiết chế xã hội và thứ hai, hôn nhân chỉ các sự kiện và quá trình dẫn đến sự hình thành một gia đình mới hay là việc kết hôn. Khi coi hôn nhân là một quy tắc xã hội, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng: "Nếu như gia đình là hình thức kết hợp cá nhân có tính lịch sử của tổ chức đời sống xã hội loài người, đó là sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà thì hôn nhân là những quy tắc của sự kết hợp đó, sự kết hợp mang yếu tố giới tính. Những hình thức của hôn nhân phản ảnh những quy luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử và mang những đặc thù văn hóa tộc người" [Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, 1998]. Trong tác phẩm "Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam", một công trình đề cập nhiều tới lý thuyết về hôn nhân và gia đình, tác giả Đỗ Thúy Bình (1994) nhận định: "Hôn nhân và gia đình là các thiết chế xã hội rất đa dạng và phức tạp phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và tinh thần, tư tưởng và tâm lý" và "Hôn nhân - một thể chế xã hội luôn là đối tượng của sự kiểm soát xã hội, còn trong xã hội có giai cấp là đối tượng của luật pháp".
Cuốn sách Những điều cần biết về Nghi lễ hôn nhân người Việt của Trương Thìn (2010) đã khái niệm hôn nhân "Việc lấy vợ lấy chồng gọi là hôn nhân, cưới xin, hôn thú, hôn thư hay giá thú." hay định nghĩa đơn giản trong Nghi lễ vòng đời người chỉ là "Hôn nhân là một danh từ để chỉ việc lấy vợ lấy chồng của đôi trai gái" (Lê Trung Vũ chủ biên, 2007). "Hôn nhân cũng là một yếu tố cơ bản trong cuộc sống gia đình. Hôn nhân là hai cá nhân đến với nhau, được gọi là vợ chồng, gắn kết chặt chẽ và đi chung một con đường. Thực tế là nền tảng hay nguồn gốc của gia đình bắt đầu từ hai cá nhân: chồng và vợ.
Để duy trì mối liên kết mạnh mẽ và tin tưởng hơn giữa hai người, Phật giáo nhấn mạnh những trách nhiệm khác Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 nhau mà cả hai phải chung vai gánh vác", các trách nhiệm này cũng được giảng giải cụ thể trong kinh Sīgalovāda4.Jnan Nanda - Phan Thị Thanh Hương và Trần Kim Chi dịch (trích Tham luận Vesak, 2014). Từ sự định nghĩa trên ta thấy rằng, sự liên kết giữa nam và nữ để thành vợ thành chồng, thành gia đình là một nhu cầu xã hội, một nhu cầu sinh học. Hôn nhân là sự tạo lập cuộc sống chung hoàn toàn của một người đàn ông và một người đàn bà, sự sống chung hoàn toàn này gồm những thành phần vật chất: ở chung dưới một mái nhà, ăn cùng một mâm, hưởng chung những sung sướng vật chất, đồng lao cộng khổ để cùng trở nên hạnh phúc, cùng có đủ mọi nhu cầu của cuộc sống. Như vậy dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, có thể thấy hôn nhân là hiện tượng xã hội phức tạp, bao hàm trong đó các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực như sinh lý, kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý, tình cảm.Việc xây dựng gia đình đã trở thành một quy luật tất yếu khi chúng ta bước vào tuổi trưởng thành, là đích đến cuối cùng của tình yêu, là sự tạo lập cuộc sống chung hoàn toàn của một người đàn ông và một người đàn bà.2 Hôn nhân trong Phật pháp Quan điểm của người Phật tử về hôn nhân là một quan điểm tự do tự nguyện, hôn nhân là một vấn đề hoàn toàn có tính cách cá nhân, không phải là một nghĩa vụ tôn giáo.
Không hề có một quy tắc tôn giáo nào trong đạo Phật buộc một người phải lập gia đình, phải sống độc thân hay phải sống một cuộc đời hoàn toàn trinh tiết. Cũng không hề tìm thấy ở đâu trong giáo pháp nhà Phật quy định việc Phật tử phải có con cái để nối dõi tông đường hay ấn định số con mà một người phải sinh ra. Giáo lý nhà Phật cho phép mỗi cá nhân tự do quyết định mọi vấn đề liên quan đến hôn nhân. Trong đạo Phật, nếu chưa có đại duyên xuất gia thì không có gì sai trái với việc kết hôn, tuy nhiên việc lập gia đình phải được xem như là một tiến trình của đời sống và phật tử tại gia phải coi đây như là một cơ hội tốt cho họ Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 thực hành những điều tu tập.
Chồng và vợ lúc nào cũng phải tương kính lẫn nhau, họ phải học cách chia sẻ những vui buồn trong đời sống hằng ngày mà tương kính và cảm thông là hai thứ quan trọng trong cuộc sống gia đình. Đức Phật cũng khuyên dạy các đệ tử tại gia làm sao có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Những bài giảng của Đức Phật về nền tảng đạo đức Phật giáo trong xã hội trong kinh Thi Ca La Việt, phác họa mẫu mực căn bản trong mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái, nêu những bổn phận ràng buộc với nhau, nhấn mạnh đến những khía cạnh thiết yếu của cuộc chung sống. Theo Đức Phật, văn hóa tương hợp giữa chồng và vợ là một trong những yếu tố đem lại thành công trong hạnh phúc lứa đôi, tuy không có sự khuyến khích về hôn nhân thế tục, nhưng Đức Phật tán thán những cặp vợ chồng sống hạnh phúc với nhau.
Đức Phật đã dạy tình yêu hôn nhân giữa người chồng và người vợ dĩ nhiên là một yếu tố quan trọng trong việc tạo lập gia đình và xã hội, chứng minh và hộ niệm cho hôn lễ của Phật tử là việc làm tùy thuận của chư Tăng. Hơn nữa, việc làm này cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho người Phật tử tại gia Phật hóa gia đình, xây dựng đời sống gia đình hướng thiện.