Chương 1 CẤC KHÁI NIỆM Cơ BẨN (15 tiết) Bài 1 : Văn hóa và vãn hóa học (4 tiết) 9 Bài 2. Van hóa và mõi trường tự nhiên (3 tiết) 25 Bài 3 : Vãn hóa và môi trường xã hội (4 tiết) 36 Bài 4 : Tiếp xúc và giao lưu vãn ho'a (4 tiết) 49 - Đan vị học trình 2 Chương 2 CẤU TRÚC, CẨC THIẾT CHẾ VÀ CHỨC NÀNG CỦA VĂN HÓA (15 tiết) Bài 5 : Hình thái và mô hình vãn hóa (4 tiết) 64 Bài 6 :Những thành tố của ván hóa (5 tiết) 73 Bài 7 Chức năng và cấu trúc của văn hóa (6 tiết) 100 - Đíf/1 vị học Irình 3 Chương 3 DIỄN TRÌNH LỊCH sử CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM (15 tiết) Bài 8 : Vãn hóa Việt Nam thời tiễn sử vã sơ sử (3 tiết) 114 Bài 9 : Van hóa Việt Nam thiên niên kỉ đấu công nguyền (3 tiết) 134 Bài 10 : Văn hóa Việt Nam thời tự chủ (3 tiết) 163 7 Bài l ỉ : Van hóa Việt Nam tù năm 1858 đến năm 1945 (3 tiết) 183 Bài 12 : Vàn hóa Việt Nam từ năm 1945 đến nay (3 tiốt) 198 - Dơn vị học trình 4 Chương 4 KHÔNG GIAN VÀN HÓA VIỆT NAM í 13 tiếti Bài 13 .: Vùng vãn hóa Tây Bấc (1,5 tiết) 213 Bài 14 .■ Vùng vãn hóa Việt Bắc (1,5 tiết) 226 Bài 15. ' Vùng ván hóa châu thổ Bắc Bô (3 tiết) 234 Bài 16. Vùng văn hóa Trung Bộ (3 tiết) 244 Bài 17 .■ Vùng vãn hóa Tây Nguyên (2 tiết) 252 Bài 18 .■ Vùng vãn hóa Nam Bộ (2 tiết) 266 Chương kết luận : Bài 19 : Ván hóa vã phát triển <2 tiết! 278 8 Chương ỉ CÁC KHÁI NIỆM Cơ BẢN BÀI 1 VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA HỌC I - CON NGƯỞI - CHỦ/KHÁCH THỂ CỦA VÀN HÓA Một trong những khía cạnh cán xem xét cùa vấn đề là quan hệ giữa con người và văn hóa.
Mối quan hệ này được bộc lộ ra ở ba khía cạnh quan trọng : - Con người với tư cách là chú thể sáng tạo cùa vãn hóa, - Con người cũng lặ sản phẩm của vãn hóa, - Con người cũng là đại biểu mang giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra. Như vậy, con người vừa là chủ thể nhưng vừa là khách thê’ của văn hóa. Có nhìn nhận vãn hóa như một chỉnh thể thóng nhất, chúng ta mới lí giải được mối quan hệ hữu cơ giủa con người với xã hội, giữa con người với tự nhiên. Trong những mối quan hệ ãy, con người lã chủ thể, là trung tâm, như mô hình sau : CN TN.
X H 9 Thê nhưng, từ trước đến nay cà ba thành tô' trong mõ hình này, không phải đà được niọi người, mọi thòi nhìn nhận một cách nhât quán. 1, Nhứng dịnh nghĩa khác nhau vé con người Trong trường kì lịch sử, những câu hỏi "Ta t.ữ đâu đến ? Ta đi đến đâu là những câu hỏi ám ảnh loài người từ muôn đời nay. Và loài người luôn tìm cách giải đáp những câu hỏi này bàng Các huyến thoại, sáng thế luận, học thuyết triết học, tôn giáo v. Trong tư tưởng phương Đông, con người là vũ trụ thu nhò ’’Nhân thân tiểu thiên địa" (Lão Tử) Con người là sự thống nhất của không gian và thời gian Con người bao gổm cả vũ - không gian (trên dưới) và trụ - thời gian (xưa qua nay lại).
Theo mô hình tam phân (bộ ba) hay thuyết Tam -Tài, con người lả một trong ba ngôi ba thế lực của vũ trụ bao la tức Thiên - Địa - Nhân. Người nối liển tròi với đất, dung hòa hai cực đối lập ay để đạt được sự hài hòa hợp lí : ’’Thiên thời - địa lợi - nhân hòa”. Trong hệ thống quan niệm của Phật giáo, người và muôn loài là bình đảng, khậc với quan niệm phương Tây cổ truyền cho con người là trung tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài. Quan niệm vé con người của triết học phương Đông là : "Tam tài", "Vạn vật tương đống", "Thiên nhân hợp nhãt" và quan niệm của Phật giáo cho ràng con người bình đẳng với muôn loài, hoàn toàn tương đổng vói xu thế phát triến của sinh thái học hiên đại và sinh thái học vãn hóa.
Chù nghỉa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhỉn con người như một. thành tỗ đã tón tại trong nhỉếu mối quan hệ xã hội như định nghĩa của Các Mác : "Trong tính thực tiễn của nó, con người là sự tổng hòa các quan hệ xã hội". Một số nhà nghiên cứu cho rằng định nghĩa này đúng nhưng đê’ hiểu Các Mác hơn cấn nhớ, năm I860, khi hai cô con gái Laura và Jenny Mác dặt câu hỏi với bố : "Châm ngôn ưa thích nhẩt 10 cúa bó là gì ? ", Mác đã trà lời bảng một câu nổi tiếng của thòi cổ đại La Mã : "Không có cái gi của con người, mà tôi lại coi nó như xa iạ đói với tôi" Trong thòi đại tin học, người ta hay sử dụng khái niệm con ngưòi nhiều chiều (Multidimension). Khái niệm này vể thực chất thê’ hiện quan niệm trên của Các Mác.
Con người nhiểu chiểu ở đây có thể hiểu con người trong các chiểu hướng tự nhiên xã hội, gia đình ,----- xã hội, hành động,----- - tâm linh, con người. — chính minh. Trong khoa học sinh thái, con người được đặt trong sinh quyển, lã một thành viên đặc biệt trong sinh quyển, do bản chat sinh vật phát triển >hoàn hảo nhất và do bản chất văn hóa chi có ở con người. Con người cùng với quả đất là một hệ sinh thái.
Tuy vậy do vị trí thuộc nhóm sinh vật tiêu thụ ăn tạp (con người là một kẻ tiêu thụ đặc biệt tham lam nhẵt và tàn nhẫn nhất - ãn, phá, khai thác và biến đổi tự nhiên) nên con người hâu như không có đóng góp gi đáng kể cho quá trình tiến hóa của sinh quyển củng như cho sự phát triển của hệ sinh thái, ngoài sự tổn tại vã phát triển của chính xã hội của mình. Từ thê' kỉ XVIII B.Franklin đã định nghĩa con người là "động vật làm ra công cụ". Cho đến trước năm 1960 hắu hết các nhà khoa học đẽu đã nghĩ như vậy. Song những kết quả quan sát và nghiên cứu tập tỉnh của các loài động vật cãp cao ở điều kiện thí nghiệm và điêu kiện tự nhiên cho thây ở nhủng tình huống nhất định, một sổ loài đã sử dụng đá, cành cây.
(như vượn - người chimpanje) Như vậy, mầm mống sử dụng công cụ đã xuất hiện ở con vật Nhiều học giả phương Tây đã lợi dụng kết quà nghiên cứu dó để chóng lại học thuyết vẽ vai trò của lao động trong quá trinh biến chuyển từ vượn thành ngưbi. Vi thế, điểm mấu chốt là phải làm rõ những điếu kiện và tình huổng môi trường tự nhiên, xâ hội cùa hai hoạt động này. Động vật sử dụng công cụ "ngấu nhiên" không hệ thống, hay không muổn làm theo hệ thống vã không bắt buộc Con người sử dụng 11 và chê tạo công cụ một cách có ý thức, có hệ thống và với một sự bát buộc đê’ có thê’ tổn tại do đã bị mát đi những khả nâng thể lực. Hay "Con người còn tỏ ra là động vật duy nhất đã biết "chọn" cách thích nghi dể phát triển hệ than kinh tới mức đó (tư duy, chê' tạo công cụ, ngôn ngữ), trong khi các động vật khác đã chọn cách biến đổi tứ chi của chúng để cải thiện dinh dưỡng.
Con ngưòi giữa toàn bộ thế giới động vặt là loài đã phát triển được bộ não"(ì\ Ta co' thể bổ sung thêm định nghĩa của B.Franklin "con người sơ khai - một loài linh trưỏng biết chế tạo và sử dụng một cách hệ thống các công cụ bàng đá, tre, gỗ."(1 2) Con người vừa là cá nhân không thể chia cát được, vừa là một sinh vật xã hội. Đặc điểm của con người là sổng cùng nhau, sống với nhau, thành một cộng đổng. Tuy thế loài vật cũng sóng cùng nhau, sống vớỉ nhau, như vậy con người không phải là kẻ độc quyền vể tính xã hội. Song, tính xã hội của con vật được di truyền theo bản nâng, không thay đổi, bất di, bất dịch từ ngàn đòi nay.
Tính xã hội của con người được truyền qua con đường sinh học, 'và con đường vản hóa (thông qua trau dổi, tu dưỡng, giáo dục). Tính xâ hội cùa con người là quá trinh vâi những nguyên lí và cấp độ diễn biến phức tạp. Trong tất cả các loài, "Con người là sinh vật có tính xã hội cao nhất" (F. Con người luôn luôn sống trong hai thế giới, thế giới thực và thê' giới biểu tượng Đậc điểm riêng của con người, theo L A.White, chính là năng lực biểu trưng của tư duy con người.
Sự nhìn nhận vai trò của con người : Chúng ta nói vãn hóa trước hết phải nói tới con người, "Trong toàn bộ sự phát triển xã hội, con người luôn luôn tồn (1) Yves Coppens : Trớ chuyện 1'iii Miclìd tiaiixỉic - Ngươi đưa lin UNESCO.\gunn hnii Hị^củi. 12 tại vái hai tư cách : vừa lã chủ thể. vừa Lã đối tượng Với tư cách là chủ thể, con người thực hiện sự phát triển của xã hội, mà trưốc hết là sự phát triển lực lượng sản xuất Với tư cách là đối tượng, con người hưởng thụ những thành quả cùa sự phát triển đó. Không có con người thì không có sự hưởng thụ cũng không co' sự cõng hiến - nghĩa là không có sự phát triển.
Dĩ nhiên giả thiết â'y là không thể có được, nhưng nó cho thấy một điểu trong tất cả nhửng gì co' thể nói được vế sự tiến hóa của lịch sử trên trái đăt, con người là trung tâm. Hơn nữa cái vị trí trung tâm đó được đảm bảo bằng hai vê' - cống hiến và hưởng thụ. Ớ con người, với tư cách lã con người hai vế này có sự gắn bó chặt chẽ và luôn luôn cần giữ được sự cân đối trong từng hoàn cảnh lịch sử"(l\ Như vậy từ góc độ vản hóa, ta thấy con người một mặt sáng tạo ra văn hóa (nghĩa vụ), mặt khác con người là đối tượng của văn hóa (quyển lợi - vàn hóa vì con người). Vì thế, dẩn dà, nhân loại càng nhận ra vai trò của con người và càng ngày vai trò của con người càng được đánh giá cao.
0 Liên Xô (cũ), trước hiến pháp Xtaỉin 193Ô, Xtalin có một luận điếm, trong đó nêu vấn đễ con người là quyết định. O Việt Nam, đã có lúc khoa học xã hội Việt Nam ít, hoặc còn né tránh chuyện nghiên cứu những vãn đễ vể con người Việt Nam. Tình hình đó đã thay đổi đặc biệt từ sau Dại hội VI cùa Đảng Cộng sản Việt Nam.