mở đầu của văn minh Champa cũng như sự nối tiếp của một số loại hỉnh hiện vật đặc biệt là đồ gốm và đồ trang sức, của táng thức, của các ngành nghề kinh tế cho thấy nhà nước Champa 1a su tiếp nối của nhà nước Sa Huỳnh. Nhà nước Chămpa được hình thành trên cốt lõi của van hda Sa Huynh đưới ảnh hưởng của những yếu tố văn hớa ngoại sinh Trung Hoa, Ấn Độ. Và sự "Ấn Độ hớa" ban đầu chỉ xảy ra ở lớp mật của văn hóa (tôn giáo) ở tầng lớp trên của xã hội 3. Văn hóa Đồng Nai Sau thời dai da ci, bang di mét thời gian dài, đến khoảng hơn 4000 năm cách ngày nay, trên đất Đông Nam Bộ xuất hiện một lớp cư dân mới.
Họ là chủ nhân của nền văn hơa Đồng Nai thuộc thời đại kim khí (đồng thau và sắt sớm), sinh sống ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau. Đông Nam Bộ vào những thiên niên kÌ II-I trước công nguyên đã trở thành một trong 128 er ba trung tâm van hóa lớn của thời đại kim khi. Van hóa Đông Sơn ở miền Bác, Sa Huỳnh ở miễn Trung và Đông Nai ở miền Nam. Văn hóa Đồng Nai được nhìn nhận như bước mở đấu cho truyền thống văn hóa tại chỗ ở Nam Bộ với bản sác riêng và sức sống mãnh liệt.
Hàng tram di tích của các giai đoạn sớm, giữa, muộn đã được phát hiện và nghiên cứu. Những di tích này phân bố suốt từ vùng đối gò cao cho tới trung, hạ lưu các con sông và ven biển. Mỗi một tiểu môi trường sinh thái ứng với một mô thức sản xuất - văn hơa thích hợp Ở vùng đổi đá phiến và bazan đất đỏ thuộc Đông Nai cơ những di tích (cư trú, mộ táng, xưởng) diện tích lớn, tầng văn hớa dày. Đây là vùng phát sinh và quần tụ quan trọng liên tục nhất của văn hóa Đồng Nai với những di tích Cầu Sát, Suối Chén, Phu Hoa, Hang Gòn © ving d6i đá phiến và bazan đất dé dài cao nguyên Sông Bé có loại hình di tích đặc trưng là công trình đất đáp hình tròn với hai vòng thành và hào sâu ở Lộc Ninh - Bình Long Vùng liên kết đổi bazan-đá phiến- phù sa cổ dọc hệ thống Sông Bé-Đồng Nai, nơi tập trung dày đặc các di tích, di chi-mộ táng-xưởng thủ công đơa hay đa ngành tiêu biểu nhất là Suối Linh, Bình Đa, Dốc Chùa.
Vùng phù sa đất xám thuộc hệ thống sông Vàm Cỏ với những đi chỉ, đi chỉ kèm mộ đất như An Sơn, Gò Rạch Rừng, Đính Ông, Rạch Núi. Vùng đồng bằng phù sa mới miền châu thổ hạ lưu Đồng Nai - Vàm Cỏ và những đầm lầy không và nhiễm mặn cận biển tiểu vùng kinh tế-văn hóa, mới tạo thành từ đầu thiên nhiên kỉ L trước công nguyên như Cái Vạn, Bung Bac, Bung Thơm, Giống Phệt, Giồng Cá Vồ. Ở cả nám tiểu vùng văn hóa Tiền- sơ sử Đông Nam Bộ, di vật được đưa ra khỏi lòng đất từ nhiều dạng di tích khảo cổ khác nhau với nhiều chất liệu gốm, đá, gỗ, đồng. 9-CSVHVN 129 “ge Or, Đố đá là loại di vật phổ biến và có số lượng lớn.
Đây cũng là đặc điểm lớn nhất của van hóa Đồng Nai - Nơi mà công cụ - dụng cụ bàng đá lấn át mạnh mẽ và dài lâu kim loại đo thiểu váng các nguồn quậng đồng và hợp kim ban dia trong toàn miễn. Kỉ thuật chế tác đá mang nhiều tỉnh chất thực dụng, tiết kiệm tối đa công sức và nguyên liệu. Bộ công cụ đá mang đạc tính chuyên môn hớa cao. Chiếm số lượng nhiều nhất là công cụ sản xuất, vũ khí (rìu, bôn, cuốc, mai, dao hái, đục, mũi nhọn - mũi tên).
Loại hình trang sức thường gập là các loại vòng, vật đeo. Tại di tích Đối Phòng Quân đã tìm được nhiều dau tích của đi chỉ xưởng. Công xưởng này được chuyên môn hóa để chế tạo một loại sản phẩm duy nhất là vòng đá Một loại hình nữa là đàn đá - đây là chế phẩm đặc thù của văn hóa Đồng Nai, đàn đá có mặt ở nhiều di tích, có niên đại khoảng ba ngàn nam cách ngày nay. Đặc biệt ở Bình Đa, lấn đầu tiên đàn đá được tìm thấy trong một tầng văn hóa cổ, cùng với tổ hợp di vật gốm đá khác.
Phát hiện này đã giúp xác định được niên đại đàn đá, khẳng đình sự tồn tại của một nhạc cụ cổ truyền ở Dồng Nai nói riêng và ở nước ta nói chung. Nghề đúc déng va luyện kim đồng đã xuất hiện vào khoảng 4000 năm cách nay. Tuy vậy, dựa trên cơ sở những tư liệu mới, có thể thấy rằng đổ đồng đã khá phổ biến vào khoảng 3000 năm cách ngày nay. Nhiều di chỉ đúc đồ đồng đã được phát hiện ở Suối Chồn, Cái Vạn, Dốc Chùa, Bưng Bạc.
với hàng loạt khuôn đúc loại hai mang liên hoàn nhiều vật đúc. Về loại hình ít nhất có ba loại rìu, giáo, mũi dao. Ngoài ra trên khuôn đúc còn thấy lưỡi dục, lưỡi câu, mũi xiên, chuông, lục lạc, lao nganh, kim, bông tai. 6 giai đoạn muộn cớ loại hình qua.
Giai đoạn muộn của văn hóa Đồng Nai được đặc trưng bởi những khu mộ chum kiểu mộ chum văn hơa Sa Huỳnh với (1) Chúng tôi dựa vào kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Diệm. Pham Quang Son. Bui Chí Hoàng tràng : Kháo cổ Đồng Nai Nxb Dồng Nai 1991 và Phạm Đúc Mạnh trong Di chỉ khảo cổ học ương Bạc, Nxh Khoa học xã hội, 1996 130 my những loại hình hiện vật bằng sát, bằng đá, đá mã não, thủy tỉnh bên cạnh những hiện vật gốm, đá điển hỉnh của van hda Đồng Nai Vẽ sự xuất hiện của những di títh mộ chum này, hiện nay còn khá nhiều ý kiến chưa thống nhất Đồ gốm và nghề làm gốm đã xuất hiện trong những di tích sớm và tổn tại trong suốt quá trỉnh lịch sử cư dân van hơa Đồng Nai. Chế tạo và sử dụng đố đựng đun nấu - ăn uống đơn giản về đáng vẻ, mộc mạc và trang trí không cầu kì, song gồm được nung ở độ nung cao và bãng kỉ thuật bàn xoay Với những loại hình chủ đạo nổi vò bát, bát có chân Cà rang, doi xe sợi, bi, bàn xoa gốm.
Loại hình Cà ràng (còn được gọi là gốm sừng bò) thực chất là một loại hếp ba chân có bàn đế thích hợp với môi trường sông nước, được phát hiện trong nhiều đi tích bàn xoa gốm là loại dụng cụ được sử dụng trong việc tạo dáng đố đựng bằng gốm nhằm xoa lên mật trong gốm cho đều, phẳng, nhẫn và làm cứng phôi gốm. Văn hóa Đồng Nai còn nổi tiếng bởi sưu tập công cụ gỗ phong phú về loại hình, nhiều về số lượng. Đặc biệt những tổ hop hiện vat gé tim thấy ở các di tích vùng ngập mặn ven biển như Bưng Bạc, Bưng Thơm, Cái Vạn. Bên cạnh do là bộ sưu tập công cụ - đồ dùng chế tác từ xương sừng hết sức độc đáo chưa từng có ở Đông Nam Á, với những lưỡi câu lớn gia công từ sừng hươu, dao và kim đùi từ xương trụ của chớ nhà, riu cd vai từ mai rùa biển và nhóm trang sức đủ loại Về đời sống kinh tế của cư dân văn hóa Đồng Nai ; dựa trên hệ thống tư liệu, các nhà nghiên cứu cho rằng những hình thức quan trọng và phổ biến nhất trong đời sống kinh tế truyền thống Đông Nam Bộ là trồng lúa cạn không dùng sức kéo, trồng rau đậu, cây có quả-củ cho bột bằng phương pháp phát-đất đặc thù của nông nghiệp nương rẫy, chăn nuôi, sản bắn (tai di chi An Sơn), hái lượm, đánh bát cá tôm và nhuyễn thể của sông biển.
Khi so sánh trình độ phát triển kinh tế - kỉ thuật và van hóa của những nhóm cư dân trong văn hóa Đông Nai, cần nhấn mạnh đến đạc thù của quá trình chuyên môn hóa - phân 131 w công lao động - phân vùng kính tế nhập hòa với từng miền sinh cảnh. Cần có sự quan tâm đặc biệt đến mối ràng buộc thiết yếu giữa những ngành kính tế chủ đạo nông nghiệp với nghề trồng lúa cạn là phổ cập và cả nghề trồng lúa nước ở những tiểu vùng khả thực nhất, (trồng hoa màu, cây có củ - quá và chăn nuôi) và những ngành cung ứng lương thực - thực phẩm tiền sử khác (sản bán, đánh cá và hái lượm theo phổ rong những sản phẩm thực-động vật của rừng, suối sông, đầm lầy và biển). Giữa nông nghiệp - khai thác - thủ công (sản xuất đá - công cụ và trang sức ; chế luyện kim loại - đúc đồng và rèn sất, chế tạo gồm - đổ đựng, bàn xoa và đọi se sợi, dệt vải) và thông thương nội, ngoại Đời sống tinh than cua cu dan van hda Đồng Nai được biết đến qua những hiện vật nghệ thuật. Tín ngưỡng đặc sác nhất là sưu tập thẻ đeo bằng đá cuội mai det hinh gần ovan hoặc chữ nhật và bán cầu có lỗ thing tron hay tao nim ở đẩu, tượng lợn, rùa bàng sa thạch, tượng chớ sản mổi bằng đồng ở Dée Chùa, tughg Trit Long giao bàng đồng.
Ngoài ra còn phải kể tới sưu tập đàn đá hơn 60 thanh. Ngoài ra còn có sự hội nhập của không ít yếu tố văn hóa láng giếng như trống đồng Đông Sơn, khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu của văn hóa Sa Huỳnh. ‘ Ở giai đoạn cuối của nền van hoa này, khi kim loại thực sự đã chiếm vi tri quan trong, git vai tro cha đạo trong đời sống của cư dân, mở rộng những tiểu vùng kinh tế sản xuất và khai thác mới, củng cố những liên hệ kinh tế - văn hóa nội vùng, thành tạo những điếu kiện tập trung của cải phân bổ giàu nghèo và cố kết quyền lực trung tâm, hình thành cơ cấu xã hội có giai cấp sơ khai và Nhà nước khởi thuỷ vào những thế kỉ đầu công nguyên 4. Kết luận Thời sơ sử, trên đải đất Việt Nam ngày nay có ba nền vân hóa, hoạc ba phức hệ văn hóa : Phức hệ văn hóa Bàu Trám -— 132 8a Huynh, phức hệ van hóa Phùng Nguyên - Đông Sơn, phức hé van hoa Đồng Nai là ba đỉnh cao của van hóa Dong Nam A, mién Dong ban đảo Đông Dương.
Ba phức hệ văn hóa đó đã phát sinh từ những nền tảng chung của các văn húớa thời đại đá mới ở miền này, với những tộc người Nam A, Nam Đào luôn có tiếp xúc ngôn ngữ và giao lưu văn hóa với nhau.