Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ – TÂM LINH CỦA THĂNG LONG TỨ TRẤN 1. Bối cảnh lịch sử xã hội 1. Khái niệm “Tứ trấn” trong “Thăng Long tứ trấn” “Tứ trấn” là một từ ghép gốc Hán. Từ này được giải thích theo các cách sau: + nghĩa 1: “tứ trấn” mang nghĩa là 4 ngôi đình/ đền gồm: đền Bạch Mã, đền Quán Thánh, đền Voi Phục, đình Kim Liên.
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (công trình do Hoàng Phê chủ biên, NXB Từ điển Bách Khoa, 2011) có định nghĩa về từ “trấn”. Theo đó, từ này gồm 3 nghĩa. Trong đó, nghĩa thứ nhất là: “ở trụ một nơi nào đó để ngăn giữ bảo vệ. Ví dụ: Bộ đội trấn các vùng xung yếu ở biên giới; Đứng trấn ở cửa không cho ai vào [47, tr.
Như vậy, “trấn” ở đây có nghĩa là: bảo vệ, gìn giữ, canh phòng… Ý nghĩa này ta có thể thấy xuất hiện trong các từ ghép khác như: trấn an, trấn áp, trấn yểm, trấn giữ, trấn thủ, trấn nhiệm, trấn ngự. Theo quan niệm Ngũ hành của tư duy vũ trụ luận cổ xưa, trong văn hóa phương Đông, người ta coi không gian vũ trụ gồm 5 phương gồm: vị trí trung tâm và 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc [36, tr. Quan niệm Ngũ hành cũng được ứng dụng vào thuật phong thủy. Thực tế, thuật phong thủy là một nhánh của Đạo giáo mà Quách Phác đời Tấn (265 – 420) Trung Quốc là người đầu tiên viết thành sách về nó [10, tr.
Theo bước chân của Đạo giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm, thuật phong thủy cũng được người dân tiếp thu và thực hành nhanh chóng. Trong tín ngưỡng dân gian người Việt, khi xây xong nhà cửa, thành ốc, người ta thường trấn yểm để tà ma khỏi xâm phạm. Người Việt quan niệm rằng, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi một vùng đất mới được định hình thì những thế lực dữ hoặc những sức mạnh đen tối ở vùng đất đó sẽ tìm cơ hội để phá hoại vùng đất hoặc căn nhà mới xây. Vì thế, người ta thường tìm đến những thế lực siêu nhiên để mong họ có thể giúp sức bảo vệ vùng đất hoặc căn nhà của mình.
Những thế lực siêu nhiên này được thờ phụng, coi trọng như những vị thần bảo hộ họ trong suốt quá trình sinh sống, an cư và lạc nghiệp. Về nguyên tắc cơ bản, thuật phong thủy quan niệm lấy chỗ đứng làm trung tâm, với bốn phương trời đất hội tụ chầu về, thành ngũ phương ngũ thần. Trong mỗi gia đình cư trú, ngũ thần gồm có thần cổng, thần sân, thần cửa, thần giếng, thần bếp. Vì thế, người Việt thường trừ tà ma bằng bùa Ngũ sắc (= Ngũ hành) và bằng bức tranh dân gian (Ngũ hổ vẽ 5 con hổ ở 5 phương với 5 màu theo Ngũ hành với ý nghĩa: Hổ tượng trưng cho sức mạnh, trấn trị ở khắp 5 phương, tà ma không còn lối thoát [36, tr.
Nhà ở, lăng mộ là các công trình xây dựng của người Việt rất chú trọng yếu tố này. Chẳng hạn: ở lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình) có đặt tượng hổ đá phía tây, rồng phía đông, phượng phía nam, rùa phía bắc, mộ Trần Thủ Độ ở giữa theo đúng quy định vật biểu trong Ngũ hành [36, tr. Tương tự như vậy, ở kinh đô, nhà vua thờ thần trung quân ở trung tâm, nơi vua ngự, bốn bên là thần Tứ trấn – trời đất trấn giữ. Phía Đông gọi là Thanh thiên (phương trời xanh trong sáng, biểu hiện con vật thanh long – rồng xanh), phía Tây gọi là Bạch thiên (phương trời đêm trắng, biểu hiện con vật bạch hổ), phía Nam gọi Chu thiên (phương trời hồng đỏ, biểu hiện chim chu tước), phía Bắc gọi là Huyền Thiên (phương trời màu đen, biểu hiện chim huyền vũ) [10, tr.
Trở lại với 4 ngôi đình/đền trên đất Thăng Long, theo các truyền thuyết và tài liệu trong đền kể lại thì trừ đền Bạch Mã do Cao Biền xây dựng vào khoảng năm 860 – 874 do sự sợ hãi với thần sông Tô Lịch, sau này khi thần Long Đỗ có công giúp vua xây thành thì vua Lý Thái Tổ cho sửa lại đền thờ mới phong thần Long Đỗ là Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần, trấn phía Đông kinh thành, còn lại 2 ngôi đền: Quán Thánh, Thủ Lệ, và đình Kim Liên, ngay sau khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xây dựng kinh thành xong, các vị vua Việt đã xây dựng các ngôi đình/đền thờ những vị thần với mục đích trấn yểm cho kinh thành. Từ đó, Thăng Long – mảnh đất “rồng cuộn hổ ngồi” nằm ở vị trí trung tâm, xung quanh là 4 vị thần thiêng làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ cho nó đảm bảo tồn tại và phát triển bền vững. Đó là thần Huyền Thiên Trấn Vũ được thờ ở đền Trấn Vũ (Quán Thánh) nằm ở phía Bắc, thần Cao Sơn Đại Vương được thờ ở đình Kim Liên nằm ở phía Nam, thần Bạch Mã hay còn gọi là thần Long Đỗ, thần sông Tô Lịch được thờ ở đền Bạch Mã nằm ở phía Đông và thần Linh Lang Đại Vương được thờ ở đền Voi Phục nằm ở phía Tây. Một vấn đề nữa cũng cần đề cập là, người lập nên 4 ngôi đình/ đền là các vị vua (chúng tôi xin trình bày ở phần sau), song người gọi 4 ngôi đình/ đền này là “tứ trấn” lại chính là dân gian.
Bởi vì 4 ngôi đình/ đền này không phải được khởi tạo cùng một lúc, cùng khoảng thời gian ngay sau khi việc xây thành hoàn tất mà thực tế, chúng được xây dựng vào những khoảng thời gian khác nhau, do những vị vua khác nhau. Do đó, chúng tôi cho rằng, người gọi 4 ngôi đình/đền trên là “tứ trấn” của Thăng Long chính là dân gian sau khi việc xây dựng 4 ngôi đình/đền này hoàn tất. “Tứ trấn” trong Thăng Long tứ trấn cũng có thể hiểu là “tứ trấn thần” được thờ trong 4 ngôi đình/ đền. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện cụm từ “Thăng Long tứ trấn” với ý nghĩa này là chính xác từ năm nào thì hiện nay không có thư tịch nào ghi chép hiện nay còn lưu giữ được.
Trong một bài viết có tựa đề Thăng Long tứ trấn mục Hỏi đáp Folklore của nhà nghiên cứu Phùng Thành Chủng được đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian số 5 năm 2006, ông cho rằng, từ năm 1490, từ “tứ trấn” có thêm nghĩa thứ hai - tức là “tứ trấn” ở ngoài thành Thăng Long [7, tr. Chúng tôi cho mốc năm 1490 là chưa hoàn toàn chính xác mà đúng ra phải là mốc giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) mới đúng.Việc lý giải vấn đề này, chúng tôi xin trình bày ở phần tiếp theo: nghĩa thứ 2 của từ “tứ trấn”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + nghĩa 2: tứ trấn nghĩa là 4 trấn của thành Thăng Long gồm: trấn Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây. Cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do NXB Từ điển Bách Khoa ấn hành năm 2011 nghĩa thứ 2 của từ “trấn” được định nghĩa như sau: “Đơn vị hành chính thời xưa, thường tương đương với một tỉnh” [47, tr.
Cuốn Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội năm 1998, trang 8 định nghĩa rõ hơn: trấn là một đơn vị hành chính cấp tỉnh, có từ đời Trần [35, tr. Cụ thể: “Năm 1397, (triều đình nhà Trần) đã cho đổi một số lộ ở xa thành trấn: Thanh Hóa đổi thành trấn Thanh Đô, Diễn Châu đổi thành trấn Vọng Giang; cấp xã được thay thế bằng giáp” [35, tr.23] Để làm rõ hơn điều này, chúng tôi đã khảo sát 2 cuốn sách là Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn (2 tập) – một trong số những bộ quốc sử lớn nhất và quan trọng nhất của nước ta và Đại Nam nhất thống chí thì được biết như sau: Vào năm Quang Thái thứ 10 đời Trần ở nước ta đã có các trấn như: Vọng An trấn, Lâm An trấn… [34, tr. Năm 1428, Lê Lợi chia cả nước thành 5 đạo (Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây), mỗi đạo gồm các lộ hoặc trấn, tiếp đến lần lượt là phủ, huyện, châu, xã. Xã lại có 3 loại: đại, trung, tiểu.
Năm 1466, Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo: 2 huyện Quảng Đức và Thọ Xương được lập thành phủ Trung Đô do triều đình quản lý. Lộ đổi thành phủ, trấn đổi thành châu, hoán vị huyện và châu cho nhau. Đến năm Kỷ Sửu thứ 10 (1469), một sự kiện trọng đại xảy ra ở nước ta, đó là vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, quy định rõ khu vực hành chính thuộc 12 đạo thừa tuyên [Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, quyển thứ 21, tr. Việc lập bản đồ quốc gia với từng khu vực cụ thể đánh dấu một bước tiến lớn lao trong sự phát triển của cơ cấu đơn vị hành chính lãnh thổ nước ta theo hướng thống nhất, khoa học, chính xác và tiện lợi.
Năm 1471, sau khi mở rộng bờ cõi về phía Nam, Lê Thánh Tông cho lập thêm xứ thừa tuyên Quảng Nam. Như vậy cả nước ta được chia thành 13 xứ thừa tuyên, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 xứ thừa tuyên này đến giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) thì được vua Lê Tương Dực đổi là trấn, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Nam Sách (sau đổi là Hải Dương), Thiên Trường (sau đổi là Sơn Nam), Quốc Oai (sau đổi là Sơn Tây), Bắc Giang (sau đổi là Kinh Bắc), An Bang, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Thái Nguyên (sau đổi là Ninh Sóc) và Quảng Nam. Trong đó, có 4 trấn nội kinh (nằm gần kinh thành) và 9 trấn ngoại kinh (là các trấn nằm xa hơn). Tứ trấn nội kinh (ngoài ra là các phiên trấn) bao quanh kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ che chắn, bảo vệ kinh thành ngay từ vòng ngoài khi kinh thành trực tiếp bị đe doạ.
Ngoài ra, vì ở gần kinh thành nên bốn kinh trấn còn là những lực lượng có nhiệm vụ “cứu giá” và dẹp yên nội loạn khi kinh thành có biến. Tứ trấn nội kinh được quy định gồm: Trấn Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây [Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, quyển thứ 33, tr. Cụ thể: 1) Trấn Kinh Bắc Gồm 4 phủ (20 huyện) bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Phúc Yên sau này.