TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TIẾNG HÀN QUỐC BÀI TỔNG HỢP CHƯƠNG 3: VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ Học phần: CỞ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Ngọc Diệp Danh sách thành viên nhóm 3 bao gồm: 1. Nguyễn Thị Thùy Vy (Nhóm trưởng) – 47. Lê Thị Hương Qui – 47. Dương Phúc Phụng Tiên – 47.
Dương Ngọc Bích Huyền – 47. Lê Hồ Tố Uyên – 47. Lê Thị Thủy Hằng – 47. Huỳnh Thị Hồng Mai – 47.
Lâm Kỳ Anh – 47. Nguyễn Thị Hồng Nhi – 47. Diệp Thanh Thái – 47.114 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2021 MỤC LỤC 1. TỔ CHỨC NÔNG THÔN 1.
Tổ chức nông thôn theo huyết thống: Gia đình và Gia tộc 1. Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú: Xóm và Làng 1. Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: Phường, Hội 1. Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: Giáp 1.
Tổ chức nông thôn theo đơn vị hành chính: Thôn và Xã 1. Tính cộng đồng và tính tự trị - hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam 1. Làng Nam Bộ 2. TỔ CHỨC QUỐC GIA 2.
Từ Làng đến nước và việc quản lí xã hội 2. Nước với truyền thông dân chủ của văn hóa nông nghiệp GIỚI THIỆU Tổ chức đời sống tập thể bao gồm những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, liên quan đến cuộc sống của cả cộng đồng, trong đó quan trọng nhất là ba lĩnh vực: quốc gia – nông thôn – đô thị. Đó là bức tranh chung của mọi nền văn hóa. Đối với một nền văn hóa gốc nông nghiệp điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn là lĩnh vực quan trong nhất.
Nó chi phối cả truyền thống tổ chức quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người. Nắm vững những đặc thù của tổ chức nông thôn tức là nắm được chìa khóa văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam. Sau làng thì đến nước. Ở Việt Nam truyền thống, tổ chức đô thị có vai trò mờ nhạt nhất.
Bởi vậy, chương này sẽ nghiên cứu hai vấn đề theo thứ tự sau: Tổ chức nông thôn – Tổ chức quốc gia. TỔ CHỨC NÔNG THÔN Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên, vì vậy, người nông dân phải liên kết với nhau, dựa vào nhau mà sống. Cho nên nét đặc trưng số một của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng: Làng xã Việt Nam được tổ chức rất chặt chẽ đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau. Tổ chức nông thôn theo huyết thống: Gia đình và Gia tộc Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là GIA ĐÌNH và đơn vị cấu thành là GIA TỘC.
Ở Việt Nam, làng và gia tộc (họ) nhiều khi đồng nhất với nhau. Dấu vết hiện tượng “làng là nơi ở của một họ” còn lưu lại trong hàng loạt tên làng: Đặng Xá (nơi ở của họ Đặng), Ngô Xá, Đỗ Xá, Trần Xá, Nguyễn Xá, Châu Xá, Lê Xá,… Ví dụ: Các làng theo họ như: Trường Tiểu học Ngô Xá – xã Ngô Xá - huyện Cẩm Khê – tỉnh Phú Thọ Bên cạnh đó có 6 làng Trần Xá sau: + xã Trần Xá, tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (Trần Xá, Nam Hưng, huyện Nam Sánh, tỉnh Hải Dương), + xã Trần Xá, tổng Ba Đông, huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng + xã Trần Xá, tổng Trần Xá, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam Thượng (Trần Xá, huyện Lý Nhân), + tổng Trần Xá, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam Thượng + xã Trần Xá, tổng Thượng Bá,i huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam Hạ (thuộc xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) +xã Trần Xá, tổng Dũng Liệt, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơ,n xứ Kinh Bắc (nay là làng Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). 10 miền quê ở miền Bắc có tên Đặng Xá. Trong đó có 2 thôn ở Hưng Yên, 2 xã và 1 thôn ở Hà Nội, 1 thôn ở Thái Bình, 1 thôn ở Bắc Ninh, 1 thôn ở Hà Nam và 1 thôn ở Nam Định.
Trong làng, người Việt cho đến giờ vẫn thích sống theo lối đại gia đình: các cụ già rất lấy làm hãnh diện nếu họ đứng đầu một gia đình quần tụ được 3, 4 thế hệ (tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường). Ở nhiều dân tộc ít người phổ biến tình trạng các thế hệ của một đại gia đình, một gia tộc ở tập trung dưới một mái nhà dài – loại nhà này có thể dài tới trên 30 mét, với số lượng thậm chí tới hơn trăm người Nhà dài của người Ê Đê Sức mạnh gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêu lẫn nhau - Người trong họ có trách nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất: Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì; - Hỗ trợ nhau về trí tuệ, tinh thần: Nó lú nhưng chú nó khôn; - Dìu dắt nhau, làm chỗ dựa cho nhau về chính trị: Một người làm quan, cả họ được nhờ. Quan hệ huyết thống là quan hệ theo hàng dọc, theo thời gian. Nó là cơ sở của tính tôn ti.
Người Việt có hệ thống tôn ti trực tiếp rất chi li, phân biệt rạch ròi tới 9 thế hệ (gọi là cửu tộc): Kị/ Cố - Cụ - Ông – Cha – TÔI – Con – Cháu – Chắt – Chút. Tôn ti gián tiếp (con chú con bác, anh em họ) cũng được quy định rất nghiêm ngặt; các cụ thường dạy con cháu: Xanh đầu con nhà bác, bạc đầu con nhà chú; Bé bằng củ khoai, cứ vai mà gọi,… Sức mạnh gia tộc thể hiện ở tình yêu thương, đumg bọc lẫn nhau. Tuy nhiên, vì tính tôn ti nên dẫn đến mặt trái là óc gia trưởng. Tổ chức nông thôn theo huyết thống đi theo hướng ngày càng xem trọng vai trò của gia đình hạt nhân, nuôi dưỡng tính tư hữu 1.
Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú: Xóm, Làng Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau. Sản phẩm của lối liên kết này là khái niệm LÀNG, XÓM. Ở phương Tây, các gia đình sống gần nhau cũng có quan hệ với nhau, nhưng họ sống theo kiểu trang trại, quan hệ lỏng lẻo, phần nhiều mang tính chất xã giao. Ở Việt Nam thì khác: +Thứ nhất, để đối phó với môi trường tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cần đông người của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ, người dân Việt Nam truyền thống không chỉ cần đẻ nhiều mà còn làm đổi công cho nhau.
+ Thứ hai, để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp…), cả làng phải hợp sức mới có hiệu quả. Những câu ca dao thể hiện tình nghĩa xóm làng: + Bán anh em xa, mua láng giềng gần. Nguyên tắc này bổ sung cho nguyên tắc Một giọt máu đào hơn ao nước lã. + Người xưa đã nói chớ quên, Láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau.
Giữ gìn tình nghĩa tương giao, Sẵn sàng giúp đỡ khác nào người thân. … (giao tiếp với các bạn) Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú dựa trên quan hệ hàng ngang, theo không gian. Nó là nguồn gốc của tính dân chủ, bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng, bình đẳng với nhau. Đó là hình thức dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc; trong lịch sử, nền dân chủ nông nghiệp này có trước nền dân chủ tư sản của phương Tây.
Tính dân chủ bình đẳng kéo theo mặt trái là thói dựa dẫm, ỷ lại và thói đố kị, cào bằng 1. Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: Phường, Hội Ở nông thôn, người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp, tuy nhiên vẫn có bộ phận nhỏ dân cư sinh sống bằng các nghề khác. Những người trong các ngành nghề giống nhau liên kết với nhau tạo thành một tổ chức gọi là PHƯỜNG. Một số phường đặc trưng của Việt Nam như phường gốm làm sành sứ (gốm Bát Tràng), phường nề làm nghề xây cất, phường chài làm nghề đánh cá, phường vải làm nghề dệt vải, rồi những phường nón, phường giấy, phường mộc,.
Một số hình ảnh minh họa: Làng nghề đúc đồng ở phường Thủy Xuân, TP. Huế xưa kia là làng Dương Xuân, hầu hết dân làng làm nghề đúc đồng nên từ lâu quen gọi là Phường Đúc. Mua bán hải sản tại bến cá Mỹ Á, phường Phổ Quang – phường chài (TX. Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) Phường nón ở TP.
Nón lá trở thành mặt hàng lưu niệm mang nét văn hóa đặc sắc của Huế được du khách ưa chuộng. Bạch Thổ Phường – Làng Gốm Bát Tràng ngày nay, thuộc xã Bát Tràng, Huyện Gia Lâm, tp. Hà Nội Bên cạnh phường để liên kết những người cùng nghề, ở nông thôn Việt Nam và mở rộng ra là xã hội Việt Nam nói chung, còn có HỘI là tổ chức nhằm liên kết những người cùng sở thích, thú vui, đẳng cấp: Hội tư văn liên kết các quan văn cùng làng, hội văn phả liên kết các nhà nho trong làng không ra làm quan, hội bô lão liên kết các cụ ông, hội chư bà liên kết các cụ bà đi chùa, hay hội võ phả liên kết những người theo nghề võ,… rồi còn có hội chọi gà, hội cờ tướng, v.v; và ngày nay phải kể đến là hội nhà văn, hội nhà báo Việt Nam. Các bô lão chung vui ở Lễ hội đình Làng cổ Túy Loan – thuộc xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP.
Đà Nẵng Cờ tướng – một nét văn hóa độc đáo của người Việt Phường và hội rất gần nhau, nhưng phường thì mang tính chất chuyên môn sâu hơn và bao giờ cũng giới hạn trong quy mô nhỏ. Đặc trưng của phường hội là tính dân chủ – những người cùng phường hội có trách nhiệm tương trợ giúp đỡ lẫn nhau.4: Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: Giáp Đây là hình thức tổ chức có lẽ xuất hiện muộn sau này. Nó tạo nên cái đơn vị gọi là GIÁP. Đứng đầu giáp là ông cai giáp (câu đương); giúp việc cho cai giáp là các ông lềnh – lềnh nhất, lềnh hai, lềnh ba (từ chữ lệnh mà ra).
Đặc điểm của giáp là: (a) chỉ có đàn ông tham gia; (b) mang tính chất “cha truyền con nối”, cha ở giáp nào thì con cũng vào giáp ấy. Trong nội bộ giáp phân biệt ba lớp tuổi chủ yếu: ti ấu (từ nhỏ đến 18 tuổi), đinh (hoặc tráng: đinh = đứa; tráng = khỏe mạnh) và lão. Vinh dự tối cao của thành viên hàng giáp là lên lão.