Tổng quan nghiên cứu

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại khu vực miền núi. Tỉnh Quảng Nam có diện tích tự nhiên vùng miền núi chiếm trên 74% toàn tỉnh, là địa bàn cư trú lâu đời của 129.618 đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, cộng đồng người Cơtu tại Quảng Nam có 45.715 người, chiếm 74,2% tổng số người Cơtu trên toàn quốc và chiếm tỷ lệ dân số áp đảo tại các huyện vùng cao như Tây Giang (trên 90%), Đông Giang (trên 73%) và Nam Giang (hơn 50%). Tuy nhiên, trước làn sóng giao lưu văn hóa và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của người Cơtu đang đứng trước nguy cơ biến đổi và mai một nghiêm trọng.

Đứng trước thực trạng trên, công trình nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách công về bảo tồn, phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát, đánh giá toàn diện quá trình hoạch định và thực thi chính sách tại 3 huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang trong giai đoạn 2010 - 2017, từ đó xác định các điểm nghẽn và xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác, hướng đến việc nâng cao hiệu quả giải ngân nguồn vốn đầu tư công, phấn đấu nâng tỷ lệ bảo tồn nhà Gươl truyền thống đạt 100% tại các thôn bản và gia tăng thu nhập của người dân địa phương thông qua phát triển du lịch cộng đồng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp đa chiều giữa lý thuyết chu trình chính sách công và lý thuyết phát triển văn hóa dựa vào cộng đồng. Trong khoa học chính sách, chu trình chính sách được tiếp cận như một hệ thống liên hoàn gồm các khâu: xác định nghị trình, hoạch định, ban hành, tổ chức thực thi và đánh giá kết quả chính sách. Lý thuyết phát triển văn hóa khẳng định bảo tồn và phát triển là quá trình thống nhất biện chứng giữa kế thừa tinh hoa truyền thống và tiếp thu các giá trị tiến bộ của thời đại, lấy người dân làm trung tâm và chủ thể sáng tạo.

Hệ thống khái niệm nền tảng được định hình chặt chẽ theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản chỉ đạo của Đảng:

  • Chính sách công về di sản văn hóa: Là tổng thể các quyết định, định hướng hành động và biện pháp quản lý của nhà nước nhằm gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa phục vụ đời sống xã hội.
  • Bản sắc văn hóa dân tộc Cơtu: Là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng phản ánh tâm hồn, cốt cách và phương thức thích ứng tự nhiên của người Cơtu.
  • Không gian văn hóa làng (Vêêl/Cơrnoon): Thiết chế xã hội tự quản truyền thống bao gồm hệ thống nhà sàn, nhà khách Moong, nhà mồ Ping và tâm điểm là nhà cộng đồng Gươl.

Đúng như quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII của Đảng, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển toàn diện của quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp giữa định tính và định lượng nhằm thu thập dữ liệu khách quan, đa chiều từ các cấp quản lý đến người dân cơ sở trong mốc thời gian từ năm 2010 đến năm 2017.

Về phương pháp định lượng, tác giả thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi với cỡ mẫu gồm hơn 300 phiếu. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được triển khai tại 30 xã, thị trấn thuộc 3 huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang. Cơ cấu mẫu khảo sát bao gồm: già làng, trưởng thôn, bí thư chi bộ, người có uy tín, đại diện các tổ chức đoàn thể, học sinh trường Phổ thông Dân tộc Nội trú và đông đảo người dân địa phương.

Về phương pháp định tính, nghiên cứu thực hiện 60 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với đội ngũ cán bộ, công chức các cấp: 01 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách khối văn hóa - xã hội, 02 lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 02 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, 15 chuyên viên Phòng Văn hóa - Thông tin và 39 cán bộ văn hóa phụ trách tại 30 xã, thị trấn.

Lý do lựa chọn phương pháp kết hợp này xuất phát từ đặc thù của chính sách công: cần số liệu định lượng chuẩn xác để đo lường mức độ thụ hưởng chính sách của cộng đồng, đồng thời cần dữ liệu định tính chuyên sâu để nhận diện các rào cản hành chính và bất cập trong tổ chức bộ máy thực thi. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, Ban Dân tộc tỉnh cùng hệ thống văn bản pháp quy từ trung ương đến địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu đã chỉ ra 3 nhóm phát hiện then chốt về thực trạng thực thi chính sách bảo tồn văn hóa Cơtu giai đoạn 2010 - 2017:

  • Thành tựu phục hồi thiết chế văn hóa vật thể: Nhờ các đề án quy hoạch theo Kế hoạch số 658/KH-UBND và Kế hoạch số 3798/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, công tác trùng tu và phục dựng nhà Gươl truyền thống đạt kết quả vượt bậc. Tỷ lệ thôn bản sở hữu nhà Gươl tại huyện Tây Giang đạt mức 100%, trong khi huyện Đông Giang và Nam Giang đạt trên 85%. Toàn tỉnh đã kiểm kê và xếp hạng 305 di tích cấp tỉnh và 59 di tích cấp quốc gia.
  • Sức sống của các di sản văn hóa phi vật thể: Tỉnh Quảng Nam đã bảo tồn thành công và lập hồ sơ đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với 3 loại hình nghệ thuật đặc sắc của người Cơtu: Vũ điệu Tân tung da dăh (vũ điệu dâng trời), Nghệ thuật Nói lý - Hát lý (prah pơma - têng bhơnooch) và Nghề dệt thổ cẩm hạt cườm (taanh ân đooh).
  • Nguy cơ mai một chữ viết và biến đổi kiến trúc: Chữ viết Cơtu ra đời từ năm 1957 đến nay có xu hướng suy giảm nghiêm trọng trong sinh hoạt đời thường, với tỷ lệ thanh thiếu niên biết đọc và viết chữ Cơtu chỉ đạt dưới 10%. Về kiến trúc nhà ở, trên 70% số hộ gia đình đã chuyển sang xây dựng nhà kiên cố bằng gạch và bê tông, làm biến đổi diện mạo làng truyền thống.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét nguyên nhân của các tồn tại, kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò bao cấp với hơn 80% tổng kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo tồn, trong khi mức độ xã hội hóa và đóng góp từ doanh nghiệp du lịch chỉ chiếm khoảng 15% đến 20%. Năng lực của đội ngũ 39 cán bộ văn hóa cấp xã còn hạn chế, chủ yếu làm việc kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về quản trị di sản dân tộc thiểu số.

Để làm rõ bức tranh thực tế, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ bảo tồn các loại hình di sản giữa 3 huyện và bảng thống kê cơ cấu nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2010 - 2017. Bảng số liệu sẽ phản ánh rõ sự chênh lệch lớn giữa kinh phí dành cho xây dựng thiết chế vật thể và kinh phí bồi dưỡng, truyền dạy di sản phi vật thể.

So sánh với các nghiên cứu văn hóa khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên, thành công của Quảng Nam nằm ở việc kịp thời lồng ghép bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng thông qua các dự án quốc tế của UNESCO, ILO và tổ chức FIDR. Mô hình du lịch cộng đồng tại làng Bhơ Hôồng (Đông Giang) hay làng Ta Bhing (Nam Giang) đã khẳng định tính đúng đắn của việc biến di sản thành tài sản kinh tế, tạo nguồn sinh kế ổn định với thu nhập bình quân tăng từ vài triệu đồng lên mức đáng kể cho mỗi hộ tham gia dệt thổ cẩm và đan lát.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa Cơtu trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện thể chế và ban hành chính sách đãi ngộ đặc thù: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cần ban hành nghị quyết chuyên đề trước năm 2020 về cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp cho 100% già làng tiêu biểu và nghệ nhân ưu tú nắm giữ tri thức dân gian, với mức trợ cấp sinh hoạt ổn định định kỳ hàng tháng.
  • Kiện toàn và chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ 2 lần mỗi năm cho 100% cán bộ văn hóa xã và chuyên viên Phòng Văn hóa - Thông tin tại 3 huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang trong giai đoạn 2018 - 2022.
  • Mở rộng mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn di sản: Ủy ban nhân dân 3 huyện miền núi phối hợp với các hiệp hội du lịch và doanh nghiệp lữ hành triển khai đề án phát triển du lịch sinh thái bản địa, đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu từ các sản phẩm dệt thổ cẩm, nghề rèn và rượu cần truyền thống đạt 25% đến 30% mỗi năm đến năm 2025.
  • Đưa di sản văn hóa và chữ viết Cơtu vào hệ thống trường học: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Ban Dân tộc tỉnh đưa chương trình dạy tiếng nói, chữ viết và nghệ thuật múa Tân tung da dăh vào chương trình giáo dục địa phương tại 100% các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú và trường THPT trên địa bàn 3 huyện trước năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cán bộ công tác tại Ban Dân tộc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp sử dụng luận văn làm cơ sở lý luận và thực chứng để thiết kế các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào thiểu số.
  • Giới nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các nhà khoa học chuyên ngành Chính sách công, Văn hóa học, Dân tộc học và Quản lý văn hóa khai thác khung lý thuyết chu trình chính sách cùng phương pháp khảo sát thực địa mẫu lớn tại 30 xã miền núi.
  • Doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển du lịch: Các nhà đầu tư và chuyên gia phát triển du lịch bền vững tìm kiếm tư liệu chuẩn xác về tập quán, lễ hội mừng lúa mới, ẩm thực và kiến trúc nhà Gươl để xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo.
  • Cộng đồng già làng, trưởng thôn và người dân Cơtu: Người dân bản địa và các thế hệ trẻ tộc người Cơtu sử dụng tài liệu như một cẩm nang nhận thức về giá trị truyền thống, củng cố tinh thần tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ không gian làng cổ.

Câu hỏi thường gặp

Văn hóa Cơtu tại Quảng Nam sở hữu những di sản tiêu biểu nào được công nhận cấp quốc gia?

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ghi danh 3 di sản văn hóa phi vật thể của người Cơtu vào danh mục di sản quốc gia gồm: Điệu múa Tân tung da dăh, Nghệ thuật Nói lý - Hát lý và Nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Đây là những giá trị nghệ thuật độc đáo được cộng đồng tại 3 huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang trao truyền qua nhiều thế hệ.

Nhà Gươl giữ vai trò như thế nào trong đời sống tâm linh và xã hội của người Cơtu?

Nhà Gươl là biểu tượng trung tâm quyền lực, văn hóa và tâm linh của cả buôn làng, được xây dựng ngay giữa làng với kết cấu 1 cột cái vững chắc và 8 cột phụ bao quanh. Đây là nơi hội họp bàn việc làng, xử lý tranh chấp, tổ chức lễ ăn mừng lúa mới, lễ ăn thề kết nghĩa và lưu giữ các vật thiêng của cộng đồng.

Quy mô khảo sát thực tế của luận văn được tiến hành như thế nào?

Nghiên cứu được tiến hành trên quy mô toàn diện với hơn 300 phiếu điều tra xã hội học định lượng phân bổ tại 30 xã, thị trấn thuộc 3 huyện miền núi tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, tác giả đã thực hiện 60 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với cán bộ quản lý từ cấp tỉnh đến cơ sở và các già làng uy tín.

Thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn kiến trúc nhà ở truyền thống của người Cơtu hiện nay là gì?

Thách thức lớn nhất là tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu tự nhiên như gỗ rừng, tre nứa, lá mây kết hợp với xu hướng kiên cố hóa công trình dân sinh. Điều này khiến hơn 70% hộ gia đình chuyển sang xây dựng nhà gạch, bê tông, làm mất dần không gian kiến trúc nhà sàn mái tròn truyền thống.

Chính sách công cần ưu tiên giải pháp nào để phát triển kinh tế gắn với văn hóa Cơtu?

Chính sách cần ưu tiên nhân rộng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như UNESCO và FIDR. Phương thức này giúp thương mại hóa các sản phẩm thủ công như dệt thổ cẩm hạt cườm, đan lát, rượu Tr'đin, tạo việc làm và tăng thu nhập ổn định cho 100% hộ dân tham gia chuỗi dịch vụ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về chu trình chính sách công áp dụng trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
  • Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng thực thi chính sách bảo tồn văn hóa Cơtu tại 3 huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang trong giai đoạn 2010 - 2017 với hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy.
  • Khẳng định vai trò hạt nhân của các già làng, nghệ nhân và cộng đồng bản địa với tư cách là chủ thể bảo tồn và phát huy nguồn lực nội sinh của văn hóa truyền thống.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện cơ chế thể chế, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng du lịch cộng đồng đến năm 2020, định hướng năm 2030.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp chính quyền tỉnh Quảng Nam hoạch định các chính sách an sinh xã hội và phát triển văn hóa bền vững cho vùng đồng bào thiểu số.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp nêu trên thành các kế hoạch hành động cụ thể, phân bổ ngân sách hợp lý và mở rộng hợp tác công tư. Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy cùng khai thác sâu rộng công trình này để chung tay gìn giữ và phát huy kho tàng di sản quý báu của đồng bào Cơtu nói riêng và nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung.