Chương 1. Một số vấn đề lí luận về chính sách bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam. Thực trạng chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa Cơtu của tỉnh Quảng Nam. Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa Cơtu của tỉnh Quảng Nam.
7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM 1. Chính sách công và chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa Chính sách là những định hƣớng của nhà nƣớc về những vấn đề phát sinh trong cộng đồng nhằm thúc đẩy phát triển xã hội. Chính sách công là tập hợp các quyết định của một nhà chính trị hay một nhóm chính trị có liên quan của nhà nƣớc đƣa ra mục tiêu, giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định. Tác giả Đỗ Phú Hải đã đƣa ra định nghĩa chính sách công nhƣ sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nƣớc nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải, Học viện KHXH, 2012).
Từ phân tích nêu trên có thể đƣa ra khái niệm về chính sách công nhƣ sau: Chính sách công là những quyết định hành động của cơ quan nhà nƣớc tác động đến hiện tƣợng tồn tại của lĩnh vực của đời sống, xã hội trong quá trình vận động và phát triển để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra. Chính sách bảo tồn di sản văn hóa là những định hƣớng hành động của nhà nƣớc gắn liền với các mục tiêu, giải pháp bảo tồn di sản văn hóa. Chính sách bảo tồn di sản văn hóa là một bộ phận trong hệ thống chính sách của Việt Nam nó mang những đặc điểm chung của chính sách công. Di sản văn hóa và bản sắc văn hóa 1.
Khái niệm về văn hóa Đã có nhiều định nghĩa về văn hóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng 8 ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [21, tr. Từ khái niệm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ta thấy văn hóa bao gồm toàn bộ những gì do con ngƣời sáng tạo và phát minh ra. Công ƣớc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới của Đại hội đồng UNESCO tại kỳ họp thứ 17 ngày 16/11/1972 tại Paris nƣớc Pháp và đƣợc bổ sung trong Văn kiện Hara tại Nhật Bản 1994 Định nghĩa văn hóa do UNESCO đƣa ra vào năm 1994.
Theo UNESCO, hiểu theo nghĩa rộng: “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trƣng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chƣơng mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngƣỡng”. còn hiểu theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trƣng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”. Từ những nhận định trên ta có thể đƣa ra một khái niệm chung, ngắn gọn về văn hóanhƣ sau: Văn hóa chính là sự phát triển những năng lực, bản chất của con người hướng tới các giá trị nhân văn.
Từ những quan điểm và khái niệm về văn hóa tác giả luận văn đƣa ra định nghĩa về văn hóa Cơtu: “Văn hóa Cơtu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do ngƣời Cơtu sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên, bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử, sự hình thành và phát triển của cộng đồng ngƣời Cơtu, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định” 1. Khái niệm về di sản Di sản văn hóa: Theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ tồn tại trong cuộc sống đƣơng đại và tƣơng lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị.
Di sản văn hóa đƣợc hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên. Trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa nhƣ sau: Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại đó là: Di sản văn hóa. Nhƣ 9 vậy di sản văn hóa là những sản phẩm do con ngƣời tạo ra. Tuy nhiên, không phải bất cứ sản phẩm nào do con ngƣời tạo ra đều là di sản văn hóa.
Theo điều 1 của Luật Di sản văn hóa đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29/6/2001 quy định: Di sản văn hóa: “bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam‟‟[16, tr. Di sản văn hóa vật thể: “Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [34, tr. Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 đƣợc nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2009 quy định: Di sản văn hóa phi vật thể: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng đƣợc tái tạo và đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [34, tr. Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng con đƣờng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ lƣu truyền khác nhƣ:Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, truyện kể dân gian, lối sống nếp sống, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, y học cổ truyền về văn hóa ẩm thực và các bí quyết của làng nghề truyền thống, trang phục truyền thống và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, dƣới dạng vật chất, là văn minh của nhân loại cái làm nên di sản văn hóa vật thểbằng các vật liệu khác nhau không có khả năng trƣờng tồn theo thời gian. Ở Việt Nam di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn bó mật thiết có tác động lẫn nhau cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Di sản văn hóa phi vật thể là 10 cốt lõi tinh thần của di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể.
Có thể phân loại các nhóm di sản văn hóa ở mức độ khác nhau như: Nhóm di sản văn hóa cấp quốc tế: là những di sản văn hóa thế giới. Nhóm di sản cấp quốc gia: là những di sản đƣợc xếp hạng di tích quốc gia quan trọng nhƣ: Làng nghề truyền thống nổi tiếng, lễ hội lớn vƣợt khỏi phạm vi của một tỉnh. Nhóm di sản cấp địa phƣơng: là những di tích lịch sử đƣợc xếp hạng ở một tỉnh, một huyện hoặc một xã. Theo tác giả luận văn nhận định: các di sản văn hóa mặc dù đƣợc phân thành nhiều nhóm nhƣng chúng đều có những đặc điểm chung nhƣ: Di sản văn hóa mang tính lịch sử, tính thời đại của một nền văn minh và kĩ thuật tạo ra nó, thể hiện nền văn hóa của một quốc gia hay một dân tộc.
Có tính truyền thống đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phát triển sáng tạo mới trên nền di tích cũ. Di sản văn hóa tồn tại theo thời gian do đó dễ bị ảnh hƣởng bởi có sự tác động lẫn nhau, dễ bị hƣ, bị phá hủy, bị mai một do tác động của con ngƣời của thời tiết và các vấn đề khác. Vì vậy bảo tồn di sản văn hóa nhằm đảm bảo khôi phục, tôn tạo các di sản văn hóa để phục vụ cho hoạt động xã hội phát triển lâu dài, phát huy di sản là phát triển theo chiều hƣớng tiến bộ làm cho cái hay, cái đẹp đƣợc phát triển từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều điều đó xuất phát từ nhu cầu thực tế của con ngƣời muốn tạo ra nhiều sản phẩm đƣợc nhiều ngƣời biết đến phát huy di sản văn hóa là phục vụ sự tiến bộ của xã hội, giáo dục truyền thống yêu nƣớc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, làm cầu nối cộng đồng các dân tộc trên thế giới dựa vào giá trị có sẵn của di sản để tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa. Từ nhận định trên có thể khẳng định di sản văn hóa là tài sản của quốc gia mọi ngƣời dân Việt Nam phải có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ, lƣu truyền và phát triển.
Bản sắc văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt: “Bản sắc là màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính”. 11 Bản sắc văn hóa đƣợc thể hiện trên lĩnh vực của đời sống và ý thức của cộng đồng. Bản sắc văn hóa của Việt Nam đƣợc thể hiện qua lòng yêu nƣớc, tinh thần đoàn kết, tính tự cƣờng dân tộc, sự gắn kết cộng đồng, gia đình, làng xã, lòng nhân ái, bao dung, coi trọng đạo lí, cần cù tronglao động sáng tạo đã tạo nên bản sắc văn hóa riêng của ngƣời Việt Nam. Bản sắc văn hóa là là cái cội nguồn, gốc rễ của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử của sự hình thành, tồn tại và phát triển, cái đặc trƣng riêng đó chính là sự khác biệt giữ dân tộc này và dân tộc khác.