CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHÍNH SÁCH THUC DAY UNG DUNG CONG NGHỆ 3D TRONG CONG TÁC BAO TON DI SAN 1. Cơ sở lý luận về chính sách 1.Khái niệm chính sách Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thâm quyền của mình. Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thé nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đê ra chính sách.
Các chính sách có thê được đề ra và thực hiện ở những tầng nac khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thê, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp. “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyên lực, hoặc chủ thể quan lý dua ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chién luoc phat trién cua mot hé thong xã héi’’[11; 29]. Chính sách là quan điểm, phương hướng và cách thức chung để ra quyết định trong tổ chức. Trong một tô chức có thé có nhiều loại chính sách khác nhau cho những mảng hoạt động trọng yếu.
Với từng hoạt động và đối tượng chịu tác động của chính sách khác nhau thi nhà hoạch định chính sách cần đưa ra những chính sách phù hợp. 13 Chính sách là phương thức hành động được một chủ thé hay tô chức nhất định khang định và tô chức thực hiện nhằm giải quyết những van đề lặp đi lặp lại. Chính sách giúp các nhà quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thé và những quyết định nào là không thé.
Từ đó chính sách sẽ hướng suy nghĩ va hành động của mọi thành viên trong tô chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng phố biến ở tam vi mô như chính sách kinh tế, chính sách xã hội của nhà nước đến tầm vi mô như chính sách của các tổ chức, các doanh nghiệp. Trong phạm vi này, chính sách thường được sử dụng với nghĩa là chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ. Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thé hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một fập hợp biện pháp.
Đó có thê là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hóa dưới dang các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của Chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, trường học.) - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế,.
Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là 14 cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách. - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chăng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,.
Trong quá trình chuan bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẽ lợi ích thỏa đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng dé đón lay những mối họa tiềm ân trong các vòng chơi tiếp sau. - Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nham khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới. Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bat đồng bộ này tới những bat động bộ khác.
Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ồn định tuyết đối ôn định, có nghĩa là không còn phát triển. - Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thé chính sách vạch ra. Khái niệm “ Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thé là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ”, Tất nhiên, khi nói tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết xem đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó. 15 Theo định nghĩa của tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hoá, mà một chủ thé quyền lực, hoặc chủ thé quan lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhăm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nao đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Tác giả luận văn cũng theo các định nghĩa trên. Chính sách khoa học và công nghệ Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Công nghệ của Liên Hợp Quốc (UNESCO): “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện dé nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thê hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thê hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN. Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều lệ, qui định. Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nha nước, một ngảnh, một cơ sở trong một thời ky nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN.
Định nghĩa của Luận văn: Trên cơ sở chính sách mà tác giả Vũ Cao Dam đã định nghĩa [5;31], Luận van xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau: Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyên lực nhà nước hoặc cơ quan hành chỉnh nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh: 16 Chính sách KH&CN là một tap hợp biện pháp về KH&CN. - Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thé chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN. - Chính sách KH&CN phải tac động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN.
- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào muc tiéu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Công tác bảo tồn di sản 1. Khái niệm về công tác bảo ton Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng dé làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn ta có thé hiểu như sau: Bảo tồn di sản được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tổn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Về quan điểm bảo tồn cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa. Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX. Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn nay được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tang trong lĩnh vực di sản văn hóa. Những người theo quan điểm Báo ton nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, có gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thé và phi vật thé cũng như cé gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại.
Họ cho rang, moi di sản chứa đựng những giá tri văn hóa - xã 17 hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thé dé có thé phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp. Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyền giao cho thế hệ sau, vì thế, có thé làm cho các thé hệ sau nữa không thé truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại.