Phần mở đầu, nội dung chính, kết luận và tài liệu tham khảo. Trong đó, phần nội dung chính của Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số ở cấp huyện Chƣơng 2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì Chƣơng 3.
Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì trong thời gian tới. 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CẤP HUYỆN 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số 1.
Khái niệm văn hóa Thuật ngữ “văn hóa” bắt nguồn từ từ “Cultura” trong tiếng Latinh, có nghĩa là sự cày cấy, vun trồng. Theo sự phát triển của lịch sử về mọi mặt, ngày càng có nhiều cách tiếp cận, cách quan niệm khác nhau về thuật ngữ này. Mỗi nghiên cứu, phụ thuộc vào mục đích riêng, cách tiếp cận riêng mà đƣa ra những khái niệm khác nhau, phản ánh các giác độ khác nhau của thuật ngữ văn hóa. Bản chất của “văn hóa”, do đó, hết sức đa dạng, các khái niệm về văn hóa chỉ mang tính tƣơng đối, và mỗi khái niệm chỉ phù hợp với một hoặc một số trƣờng hợp xác định, cụ thể.
Ở nghĩa bao hàm nhất, rộng lớn nhất, văn hoá đƣợc hiểu là những giá trị do con ngƣời sáng tạo, bắt đầu từ khi hình thành xã hội loài ngƣời. Ở phƣơng Đông, thuật ngữ văn hoá đã xuất hiện từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con ngƣời, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ). Ngƣời đƣợc coi là sử dụng thuật ngữ văn hoá sớm nhất là Lƣu Hƣớng (sống khoảng giai đoạn từ năm 77 TCN đến năm thứ 6 TCN), thời Tây Hán.
Ông sử dụng thuật ngữ này với nghĩa nhƣ một phƣơng thức giáo hoá con ngƣời - văn trị giáo hoá. Văn 9 Luan van hoá ở đây đƣợc dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết). Ở phƣơng Tây, để chỉ đối tƣợng mà chúng ta nghiên cứu, ngƣời Pháp, ngƣời Nga có từ “kuitura”. Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ “cultus animi” là trồng trọt tinh thần.
Vậy chữ “cultus” là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá”, UNESCO (1982) xác định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng. Văn hoá đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán đƣợc những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hoá mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vƣợt trội lên bản thân” [24, tr. Ở Việt Nam, cũng đã có một số nhà nghiên cứu đƣa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa, có thể kể đến nhƣ: 10 Luan van Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Văn hóa” với 5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử.
Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống và tinh thần. Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu diện cao về văn minh. Trong trình độ chuyên môn khái niệm văn hóa dùng để chỉ nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử đƣợc xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lƣu lại đƣợc có những đặc điểm giống nhau [18, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử” [25, tr.
Trong cuốn Xã hội học văn hóa, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hóa - vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con ngƣời trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con ngƣời nơi đó có văn hóa” [6, tr. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình” [21, tr. Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hoá đƣợc hiểu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp: Theo nghĩa rộng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr. 11 Luan van Theo nghĩa hẹp, văn hoá là những giá trị tinh thần.
Ngƣời viết: “Trong công cuộc kiến thiết nƣớc nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhƣng văn hoá là một kiến trúc thƣợng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945)” [17, tr. Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con ngƣời đƣợc đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ỏ việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi ngƣời “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”. Đặc biệt, năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr. Đây có thể coi là định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh, và đây cũng là lần duy nhất, không thấy Hồ Chí Minh trở lại định nghĩa văn hóa này. Văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con ngƣời tạo ra và đƣợc con ngƣời thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân – Thiện – Mỹ.
12 Luan van Nhƣ vậy, trên thực tế, có rất nhiều quan niệm, cách định nghĩa thuật ngữ văn hóa. Nhƣng cho đến nay, vẫn chƣa có đƣợc một sự nhất trí chung và cũng chƣa có định nghĩa nào thoả mãn đƣợc cả về định tính và định lƣợng. Điều đó, theo chúng tôi, có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: Trƣớc hết, trong số những ngƣời nghiên cứu văn hóa, hoặc, nhƣ ngƣời ta thƣờng gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tính chất lịch sử, rất nhiều ngƣời bị mắc những bệnh nghề nghiệp. Họ thƣờng qui văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thƣờng bói văn hóa, cũng nhƣ bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chƣa có một cách tiếp cận tổng thể.
Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Khi đề cập đến nó mỗi ngƣời có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu. Thứ ba, giống nhƣ tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài ngƣời. Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo.
Trong phạm vi Luận văn này, thuật ngữ văn hóa đƣợc hiểu theo cách định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO). Theo đó, “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [24, tr. Khái niệm văn hóa các dân tộc thiểu số 13 Luan van Thứ nhất, khái niệm “Dân tộc” Khi xem xét khái niệm “Dân tộc”, các nhà nghiên cứu đƣa ra hai cách tiếp cận khác nhau, gắn vứi phạm vi, mục đích nghiên cứu cụ thể.