Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam mang tên “Quá trình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015”, mã số 9 22 90 13, do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hà Giang thực hiện tại Trường Đại học Đà Lạt dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Văn Hùng, hoàn thành vào tháng 5 năm 2023.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, trong tiến trình lịch sử Việt Nam sau năm 1975, Nhà nước đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách điều chỉnh phân bố dân cư và lực lượng lao động trên phạm vi cả nước. Chủ trương đưa dân cư từ các tỉnh phía Bắc vào xây dựng các vùng kinh tế mới tại Tây Nguyên (điển hình như Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng giai đoạn 1976 - 1987, tiền thân của huyện Lâm Hà thành lập năm 1987) đã mở đường và kéo theo luồng di dân tự do quy mô lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Sau năm 1986, đặc biệt từ đầu thập niên 1990, luồng di dân tự phát này gia tăng nhanh chóng, tạo nên sự biến động sâu sắc về cơ cấu dân tộc, tổ chức xã hội, sử dụng tài nguyên đất đai và an ninh trật tự tại Lâm Đồng. Mặc dù di dân là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm, phần lớn các công trình trước đây tập trung vào luồng di chuyển nông thôn - thành thị hoặc khảo sát chung trên toàn địa bàn Tây Nguyên, Đắk Lắk. Vấn đề di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc tại Lâm Đồng dưới góc độ lịch sử chuyên sâu vẫn còn là khoảng trống chưa được nghiên cứu toàn diện và có hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là khảo sát toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về di cư tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc tại Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015 nhằm nhận diện tiến trình gia nhập cộng đồng dân cư của các tộc người này; phân tích sự chuyển biến kinh tế, văn hóa và xã hội của họ trong quá trình thích nghi với điều kiện sống mới; làm sáng tỏ nguyên nhân, các yếu tố tác động và đánh giá hệ quả đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương; từ đó đóng góp luận cứ khoa học cho công tác quản lý di dân và hoạch định chính sách phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả bối cảnh lịch sử kết hợp với việc phân tích các tài liệu lưu trữ và số liệu điều tra để diễn giải các vấn đề liên quan tới quy mô, cường độ, hướng di chuyển và không gian phân bố của cộng đồng các dân tộc thiểu số phía Bắc khi đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015.
- Phân tích những chuyển biến tích cực và những bất cập, tồn tại trong đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số di cư.
- Đánh giá những yếu tố tác động đến quyết định di cư và hướng di chuyển, những tác động của luồng di dân này đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- So sánh, phân tích và luận giải điểm khác biệt của tiến trình di cư tự do đến Lâm Đồng với một số địa phương khác trong cả nước.
- Đề xuất những kiến nghị làm cơ sở khoa học giúp cho việc xây dựng chính sách về di dân và ổn định cuộc sống của cộng đồng người di cư theo hướng phát triển bền vững.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình di dân tự do của các tộc người thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015, tập trung chủ yếu vào 4 dân tộc: Tày, Nùng, Dao và Hmông. Trong đó, người Tày và người Nùng là hai cộng đồng có số lượng đông đảo nhất; người Dao và người Hmông di cư đến muộn hơn với số lượng ít hơn nhưng tạo ra những tác động xã hội lớn. Ngoài ra, luận án đề cập đến người Thái và người Mường – cộng đồng đã di cư đến huyện Đức Trọng từ sau năm 1954 – nhằm phác họa đầy đủ diện mạo lịch sử dân cư.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn cụ thể:
- Về không gian: Địa bàn nơi đến là phạm vi địa giới hành chính tỉnh Lâm Đồng, tập trung khảo sát tại các xã có mật độ cư trú cao của đồng bào gồm xã Rô Men (huyện Đam Rông), xã Tân Văn (huyện Lâm Hà), xã Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên); khảo sát bổ trợ tại thị trấn Liên Nghĩa (huyện Đức Trọng), xã Tân Thanh (huyện Lâm Hà) và xã Phi Liêng (huyện Đam Rông). Nơi xuất cư gồm 14 tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên và Hòa Bình.
- Về thời gian: Khung thời gian nghiên cứu từ năm 1976 đến năm 2015. Mốc năm 1976 đánh dấu thời điểm đất nước thống nhất, các chính sách phân bố dân cư của Đảng và Nhà nước được triển khai trên cả nước; mốc năm 2015 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX (2011 - 2015).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích khối lượng tư liệu lớn từ các học giả quốc tế và trong nước:
Các nghiên cứu quốc tế:
- Các lý thuyết nền tảng về di dân được đặt nền móng từ nghiên cứu của E. Ravenstein (1885) với tác phẩm The Law of Migration, xác định quy luật di chuyển và động lực kinh tế; lý thuyết hai khu vực của Hawley (1950) và W. Arthur Lewis (1954) giải thích sự chuyển dịch lao động do chênh lệch áp lực đất đai và việc làm; lý thuyết "Lực hút – Lực đẩy" của Everett S. Lee (1966) trong A Theory of Migration; lý thuyết di cư nông thôn – thành thị của Harris và Todaro (1970).
- Các công trình nghiên cứu về di dân nội đô, đo lường không gian và hành vi di chuyển như E. Moore (1966), C. Curtis Roseman (1971), W. Clark (1982).
- Các nghiên cứu di dân tại các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi của B. Bhattacharya (1993), G. Fields (1994), M. Greenwood (1997), D. Hare (1999).
Các nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu di dân nông thôn – đô thị: Các công trình của Tương Lai (1998), Doãn Mậu Diệp và Trịnh Khắc Thẩm (1998), Nga My (1997), Nguyễn Văn Tài và cộng sự (1998), Nguyễn Văn Phái (2000), Trần Thị Hồng Vân (2002), Phạm Văn Dũng (2004), Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Hoàng Mai (2006), Đặng Thị Thanh Nhàn (2008), Trương Bá Thanh và Đào Hữu Hòa (2010), Nguyễn Đình Long và Nguyễn Thị Minh Phượng (2013), Trần Nguyệt Minh Thư (2013), Đinh Quang Hà (2014), Bùi Xuân Mai (2014), Lê Văn Sơn (2014). Các nghiên cứu này chỉ ra nguyên nhân kinh tế và áp lực đô thị hóa, phân tích hình thái di dân con lắc và di dân mùa vụ (Lê Đăng Giảng, 1995; Đặng Nguyên Anh, 2012).
- Khảo sát quy mô quốc gia và vấn đề giới: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu (Tổng cục Thống kê, 2005) và Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014. Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2016); các công trình nghiên cứu về giới trong di cư của Hà Thị Phương Tiến (2004), Đặng Thanh Nhàn (2009), Phạm Thị Huệ (2010), Nguyễn Thị Hồng Xoan (2012).
- Tác động kinh tế – xã hội và mạng lưới xã hội: Đặng Nguyên Anh (1997, 1998), Thân Văn Liên (1997), Đoàn Kim Thắng (1997), Hoàng Văn Chức (2004), Đinh Quang Hà (2010), Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm (2011), Nguyễn Nữ Đoàn Vy (2018), Phillip Guest (1998), Alejandro Portes (2003), Hoàng Văn Chức và Đinh Thị Minh Tuyết (2003), Mai Ngọc Cường (2013).
- Nghiên cứu chuyên biệt về dân tộc thiểu số di cư: Đậu Tuấn Nam (2013) nghiên cứu về người Hmông di cư từ Đổi mới; Nguyễn Đình Tấn (2020) nghiên cứu thực địa di dân dân tộc thiểu số tại 10 tỉnh (Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La, Nghệ An, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai, Bình Dương, Sóc Trăng, An Giang).
- Nghiên cứu về Tây Nguyên và Lâm Đồng: Lê Duy Đại (1983, 1984), Lê Duy Đại và Ngô Đức Thịnh (1987), Bùi Minh Đạo (2011), Phan An (2014), Nguyễn Thị Bích Hà (2002), Trương Minh Dục (2008), Trần Hồng Hạnh (2014); các đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 do Đặng Nguyên Anh (2014), Phạm Quang Hoan (2015), Lê Hồng Lý (2015) chủ nhiệm; nghiên cứu về các tộc người phía Bắc vào Đắk Lắk của Nguyễn Bá Thủy (1998, 2002, 2003), Đào Thanh Thái (2015), Võ Thị Mai Phương (2016); nghiên cứu của Nguyễn Duy Thụy (2016) về di cư dân tộc thiểu số đến Tây Nguyên (trong đó khảo sát huyện Đam Rông).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây tập trung vào luồng di cư nông thôn – thành thị, hoặc nghiên cứu trên phạm vi chung toàn vùng Tây Nguyên và địa bàn Đắk Lắk, hoặc khảo sát riêng lẻ từng tộc người (như Hmông, Dao) hay phạm vi hẹp cấp huyện (Đam Rông). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam về toàn bộ tiến trình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng trong suốt 40 năm (1976 - 2015). Luận án định vị nghiên cứu của mình vào việc làm sáng tỏ loại hình di dân nông thôn – nông thôn, làm rõ bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, đặc điểm, sự thích nghi sinh thái và chuyển biến kinh tế – xã hội của cộng đồng di cư tại địa bàn Lâm Đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống khái niệm, lý thuyết khoa học chuyên ngành và liên ngành:
Khái niệm và thuật ngữ:
- Di dân (Migration) và di cư (Migrate): Luận án sử dụng hai thuật ngữ này theo nghĩa chỉ sự dịch chuyển không gian của con người gắn liền với việc thay đổi nơi cư trú thường xuyên. Trong bối cảnh đề tài, đây là sự di chuyển gắn với mục đích định cư lâu dài và thích ứng với môi trường tự nhiên, xã hội mới, không bao gồm di chuyển mùa vụ tạm thời.
- Dân tộc / Tộc người (Ethnic): Xác định dựa trên các mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, văn hóa và ý thức tự giác tộc người (Đặng Nghiêm Vạn, 1998; Vương Xuân Tình, 2016; Nguyễn Công Thảo, 2016).
- Dân tộc thiểu số: Áp dụng định nghĩa theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ.
- Xuất cư – Nhập cư: Xuất cư chỉ 14 tỉnh trung du và miền núi phía Bắc; nhập cư chỉ tỉnh Lâm Đồng.
- Phân loại di dân: Phân biệt giữa di dân có tổ chức (theo kế hoạch Nhà nước) và di dân tự do (mang tính cá nhân, tự phát ngoài kế hoạch Nhà nước).
Khung lý thuyết tiếp cận:
- Lý thuyết "Lực hút – Lực đẩy" của Everett S. Lee (1966): Phân tích tương tác giữa các yếu tố đẩy ở nơi đi (thiếu đất sản xuất, gia tăng dân số, kinh tế khó khăn) và lực hút ở nơi đến (quỹ đất dồi dào, thổ nhưỡng màu mỡ, khí hậu ôn hòa, cơ hội việc làm).
- Lý thuyết hai khu vực của Hawley (1950) và Arthur Lewis (1954): Làm rõ động lực tìm kiếm tư liệu sản xuất nông nghiệp trong điều kiện chênh lệch tài nguyên đất.
- Lý thuyết mạng lưới xã hội (Social network) và mạng lưới di cư (Migration network) (Đặng Nguyên Anh, Alejandro Portes, Lê Đình Tấn): Giải thích vai trò của quan hệ thân tộc, dòng họ, làng bản trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, đón tiếp và hướng dẫn luồng di chuyển.
- Lý thuyết sinh thái học nhân văn / sinh thái học văn hóa (Cultural ecology) do Julian Steward khởi xướng (Georges Olivier, 2002; Vũ Quang Mạnh, 2011): Phân tích quá trình thích nghi của cộng đồng tộc người với môi trường tự nhiên và xã hội mới tại Lâm Đồng.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về dân tộc và phân bố dân cư.
- Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp lịch sử giữ vai trò chủ đạo, kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic để tái hiện tiến trình di cư theo trình tự thời gian và phân tích bản chất hiện tượng.
- Phương pháp liên ngành: Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp quan sát điền dã dân tộc học (chụp ảnh, ghi chép đời sống); phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc (kết hợp hồi cố và đương đại; khảo sát 2 người dân/dân tộc/địa bàn gồm 1 nam, 1 nữ và 2 cán bộ/địa bàn gồm 1 nam, 1 nữ).
- Phương pháp điều tra xã hội học định lượng: Sử dụng công thức Slovin để tính toán kích thước mẫu:
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
Với sai số chọn mẫu $e = 0,05$ (5%), tổng thể $N = 53.233$ người (dân số 4 dân tộc Tày, Nùng, Hmông, Dao tại Lâm Đồng năm 2019 theo Cục Thống kê Lâm Đồng), dung lượng mẫu xác định là $n = 397$ mẫu. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
| Thành phần dân tộc |
Quy mô dân số tại Lâm Đồng (2019) |
Tỷ lệ cơ cấu (%) |
Số lượng mẫu khảo sát (người) |
| Nùng |
24.423 |
46,0% |
183 |
| Tày |
20.248 |
38,0% |
151 |
| Hmông |
5.248 |
9,8% |
39 |
| Dao |
3.314 |
6,2% |
24 |
| Tổng cộng |
53.233 |
100,0% |
397 |
Nguồn tư liệu sử dụng gồm: Tư liệu sơ cấp (văn kiện Đảng, chính sách Nhà nước, tài liệu lưu trữ từ Chi cục Văn thư – Lưu trữ tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, Công an tỉnh, Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng, báo cáo của UBND các huyện, xã); tư liệu thứ cấp (sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo); tư liệu điền dã thực địa qua nhiều năm của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu di dân trong và ngoài nước, xác lập hệ thống khái niệm, thuật ngữ và các khung lý thuyết tiếp cận. Đồng thời, tác giả khái quát về hai địa bàn nghiên cứu:
- Miền núi phía Bắc (14 tỉnh): Là vùng địa hình chia cắt phức tạp, diện tích đất có khả năng canh tác nông nghiệp chỉ chiếm 5,5% diện tích tự nhiên toàn vùng. Nông nghiệp nương rẫy quảng canh đã tàn phá nghiêm trọng môi trường sinh thái trong thập niên 1980; đến năm 1986 độ che phủ rừng ở Tây Bắc xuống dưới 10%, nhiều huyện vùng cao như Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Hà, Mường Khương trơ trụi núi đá tai mèo. Tỷ suất sinh tại đây cao nhất cả nước, dẫn đến bùng nổ dân số thập niên 1960 - 1970 và bùng nổ lao động thập niên 1980; đến năm 1988 có khoảng 70.000 người thiếu việc làm, năng suất lúa thấp.
- Đặc điểm các tộc người: Người Tày có lịch sử cư trú lâu đời từ thế kỷ III TCN, giỏi làm ruộng nước thung lũng. Người Nùng (gồm các nhóm Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Dín, Nùng An...) di cư từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang cách đây 200 - 300 năm, làm ruộng kết hợp nương rẫy. Người Dao (gồm Dao Tiền, Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y...) di cư từ thế kỷ XII - XIII đến nửa đầu thế kỷ XX, canh tác nương, thổ canh hốc đá và ruộng nước vùng rẻo giữa. Người Hmông (gồm Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen...) thiên di từ cuối Minh - đầu Thanh, cư trú ở rẻo cao trên 800m, nương du canh là nguồn sống chủ yếu.
- Tỉnh Lâm Đồng: Diện tích tự nhiên 9.764,8 km², đất đai màu mỡ (chủ yếu là đất đỏ bazan), khí hậu ôn hòa mát mẻ, có tiềm năng lớn về phát triển nông - lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm.
Chương 2. Tình hình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015
Luận án phục dựng tiến trình di dân qua hai giai đoạn lịch sử lớn:
- Giai đoạn 1976 - 1986: Diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp. Di dân có tổ chức theo chương trình xây dựng vùng kinh tế mới chiếm vị trí chủ đạo; địa phương thực hiện điều động giãn dân nội tỉnh (chuyển 354 hộ với 1.944 người từ xã Tùng Nghĩa đến các vùng kinh tế mới Tân Hội, N'Thôn Hạ, Đinh Văn thuộc huyện Đức Trọng). Luồng di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc trong giai đoạn này diễn ra lẻ tẻ, tự phát với số lượng nhỏ, chưa tạo thành các làn sóng lớn.
- Giai đoạn 1986 - 2015: Gắn liền với công cuộc Đổi mới và nền kinh tế thị trường, được chia thành hai thời kỳ:
- Từ đầu thập niên 1990 đến năm 2004: Di dân tự do bùng nổ ồ ạt với quy mô lớn và tốc độ nhanh. Giá cà phê tăng cao cùng nhu cầu tìm kiếm đất sản xuất đã thúc đẩy hàng chục nghìn người Tày, Nùng, Dao, Hmông ồ ạt vào Lâm Đồng.
- Từ năm 2005 đến năm 2015: Số lượng người di cư tự do giảm mạnh do quỹ đất nông nghiệp tại chỗ không còn nhiều và chính quyền tăng cường công tác quản lý địa bàn.
- Hướng di chuyển và không gian phân bố: Người di cư tự do có xu hướng tiến sâu vào các vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi giáp ranh thuộc các huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh, Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà và Đam Rông để khai hoang, lập nghiệp và lập bản.
Chương 3. Những chuyển biến kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số phía Bắc di cư tự do đến Lâm Đồng
Chương này phân tích những biến đổi toàn diện của cộng đồng người di cư:
- Chuyển biến kinh tế: Chuyển đổi căn bản từ phương thức canh tác truyền thống (lúa nương, nương rẫy du canh du cư) sang trồng cây công nghiệp dài ngày có giá trị thương mại cao, chủ lực là cây cà phê, kết hợp cây ăn quả và thâm canh hoa màu; áp dụng cơ giới hóa và kỹ thuật canh tác hàng hóa; quy mô chăn nuôi gia súc, gia cầm gia tăng; đời sống vật chất và thu nhập bình quân của hộ gia đình được cải thiện rõ rệt so với nơi xuất cư.
- Chuyển biến văn hóa và xã hội:
- Nhà ở: Chuyển dịch từ nhà sàn truyền thống, nhà trình tường sang nhà trệt lợp tôn hoặc ngói, nhà xây kiên cố bằng gạch nhằm thích nghi với khí hậu, nguồn vật liệu xây dựng và điều kiện kinh tế tại chỗ.
- Trang phục và ẩm thực: Việc mặc trang phục truyền thống suy giảm mạnh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, chuyển sang sử dụng thường phục như người Kinh và chỉ mặc trang phục cổ truyền vào dịp lễ, tết; cơ cấu bữa ăn gia đình có sự thay đổi, tiếp thu thêm các món ăn và nguồn thực phẩm của địa phương.
- Tín ngưỡng, tôn giáo: Xuất hiện sự chuyển biến sâu sắc trong thực hành tín ngưỡng dân gian; sự phát triển và tiếp nhận tôn giáo mới, đặc biệt là sự gia tăng tín đồ đạo Tin Lành trong cộng đồng người Hmông và người Dao.
- Quan hệ xã hội: Sự tham gia vào các đoàn thể chính trị – xã hội cơ sở ngày càng tăng; mở rộng quan hệ cộng cư, giao lưu văn hóa và hôn nhân đa tộc người, đặc biệt với người Kinh và các tộc người bản địa tại chỗ (Cơ-ho, Mạ).
- Yếu tố tác động đến chuyển biến: Do tác động tổng hòa của điều kiện tự nhiên đất đai; chủ trương, chính sách định canh định cư của Đảng và Nhà nước; tác động của kinh tế hàng hóa; sự cộng cư gần gũi với người Kinh và ảnh hưởng của tổ chức tôn giáo.
Chương 4. Nguyên nhân, tác động, đặc điểm của di dân tự do và kiến nghị
- Nguyên nhân di cư: Được lý giải bằng mô hình "lực hút – lực đẩy". Lực đẩy từ 14 tỉnh miền núi phía Bắc gồm: thiếu đất canh tác nghiêm trọng, đất dốc bạc màu, bùng nổ dân số, thiếu việc làm, đói nghèo và thiên tai. Lực hút từ Lâm Đồng gồm: tài nguyên đất đai phong phú, đất bazan màu mỡ, khí hậu ôn hòa thích hợp cho cây công nghiệp, triển vọng nâng cao thu nhập. Mạng lưới xã hội tộc người (người đi trước báo tin, đón nhận người đi sau) giữ vai trò quyết định hướng di chuyển.
- Tác động đối với Lâm Đồng:
- Mặt tích cực: Bổ sung nguồn nhân lực dồi dào, đẩy mạnh khai hoang đất trống đồi trọc, mở rộng diện tích cây công nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh, làm đa dạng hóa diện mạo văn hóa dân tộc.
- Mặt tiêu cực: Gây áp lực nặng nề lên hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế; dẫn đến tình trạng phá rừng làm rẫy phức tạp (luận án ghi nhận số liệu diện tích rừng bị phá ở Lâm Đồng giai đoạn 2008 - 2015); phát sinh tranh chấp đất đai với các công ty lâm nghiệp và đồng bào tại chỗ; gây trở ngại lớn cho công tác quản lý nhân khẩu, hộ tịch và trật tự an toàn xã hội.
- Đặc điểm của quá trình di cư: Đây là mô hình di dân nông thôn – nông thôn, miền núi – miền núi điển hình; mang tính chất dây chuyền dựa trên quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản; người di cư mang tâm lý "ly hương bất ly nông", di cư gắn liền với mục tiêu định cư lâu dài.
- Hệ thống kiến nghị: Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:
- Ổn định địa bàn cư trú: Rà soát quy hoạch đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sắp xếp lại các điểm dân cư phân tán.
- Ổn định đời sống và phát triển sản xuất: Hỗ trợ kỹ thuật thâm canh, vốn vay tín dụng chính sách, phát triển các mô hình liên kết sản xuất.
- Xây dựng các điểm tái định cư theo hướng bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của từng dân tộc.
- Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội cho nơi xuất cư: Chú trọng giải quyết triệt để các yếu tố "lực đẩy" tại các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm ngăn ngừa tái diễn di dân tự do.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp khoa học cụ thể sau:
- Đóng góp về lý luận và lịch sử:
- Phục dựng một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống tiến trình lịch sử di dân tự do của các tộc người thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
- Xác lập cơ sở phân kỳ lịch sử rõ ràng: Giai đoạn 1976 - 1986 (di dân có tổ chức chiếm ưu thế, di dân tự do diễn ra nhỏ lẻ) và giai đoạn 1986 - 2015 (di cư tự do bùng nổ từ đầu thập niên 1990 đến năm 2004, sau đó hạ nhiệt và giảm sút mạnh từ năm 2005 đến năm 2015).
- Khẳng định bản chất luồng di chuyển này là hình thái di dân nông thôn – nông thôn, từ miền núi đến miền núi. Động lực chi phối hàng đầu là yếu tố kinh tế (nhu cầu đất sản xuất nông nghiệp, việc làm, thu nhập) kết hợp chặt chẽ với cơ chế bảo trợ của mạng lưới xã hội tộc người.
- Luận giải sâu sắc quá trình thích nghi sinh thái nhân văn và sự chuyển biến kinh tế, văn hóa, xã hội của 4 nhóm tộc người (Tày, Nùng, Dao, Hmông), góp phần cung cấp luận cứ khoa học về thực trạng đa bản sắc văn hóa và quan hệ tộc người tại Lâm Đồng.
- Đóng góp về thực tiễn và chính sách:
- Đánh giá khách quan, hai mặt (tích cực và hạn chế) về tác động của di dân tự do đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, tài nguyên rừng và an ninh trật tự của tỉnh Lâm Đồng.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ: Ổn định địa bàn cư trú; ổn định đời sống và phát triển sản xuất; xây dựng điểm tái định cư bền vững gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống; chú trọng đầu tư phát triển kinh tế – xã hội tại nơi xuất cư (14 tỉnh phía Bắc) để xử lý dứt điểm các yếu tố "lực đẩy". Các kiến nghị này là cơ sở khoa học trực tiếp cho các cơ quan quản lý nhà nước tại Lâm Đồng trong hoạch định chính sách dân tộc và quản lý dân cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Về tộc người: Luận án tập trung chuyên sâu vào 4 dân tộc có quy mô hoặc ảnh hưởng lớn nhất là Tày, Nùng, Dao, Hmông; các dân tộc thiểu số phía Bắc khác như Thái, Mường chỉ được đề cập bổ trợ, chưa có điều kiện khảo sát sâu.
- Về thời gian: Khung thời gian kết thúc ở năm 2015 (theo mốc Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX), do đó chưa phản ánh những biến động của tình hình di dân tự do và đời sống cộng đồng di cư trong giai đoạn từ 2016 đến nay.
- Về không gian điều tra: Các dữ liệu điền dã và điều tra xã hội học định lượng tập trung chủ yếu ở một số xã trọng điểm (Rô Men, Tân Văn, Phước Cát 2), chưa thể phủ kín toàn bộ các địa bàn vùng sâu, vùng xa có người di cư sinh sống rải rác trên toàn tỉnh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khảo sát biến động di dân và đánh giá hiệu quả của các dự án sắp xếp, ổn định dân di cư tự do tại Lâm Đồng từ năm 2016 đến giai đoạn hiện nay.
- Nghiên cứu sâu về thế hệ thứ hai, thứ ba của người di cư sinh ra và lớn lên tại Lâm Đồng trên các phương diện tiếp cận giáo dục, chuyển đổi nghề nghiệp phi nông nghiệp và mức độ hòa nhập xã hội.
- Tiếp tục theo dõi và nghiên cứu sự biến đổi tôn giáo mới, đặc biệt là đạo Tin Lành trong cộng đồng người Hmông, Dao và tác động của nó đến an ninh trật tự, quản lý xã hội vùng biên viễn, giáp ranh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Đối với giới học thuật: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử và dân tộc học phong phú cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học, Xã hội học, Nhân học, Quản lý công và Địa lý kinh tế. Phương pháp kết hợp nghiên cứu lịch sử truyền thống với điều tra xã hội học định lượng (xử lý qua SPSS) và điền dã dân tộc học là một kinh nghiệm xử lý tài liệu liên ngành đáng tham khảo.
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp số liệu thực chứng, đánh giá toàn diện về thực trạng sinh kế, nhu cầu đất ở, đất sản xuất và biến đổi văn hóa của đồng bào di cư cho Ban Dân tộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Phát triển nông thôn, Sở Nội vụ và chính quyền các huyện Đam Rông, Lâm Hà, Cát Tiên, Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Tẻh của tỉnh Lâm Đồng cũng như các tỉnh khu vực Tây Nguyên.
Phần nội dung đáng chú ý nhất để tra cứu là Chương 2 (về phân kỳ các giai đoạn di dân và sự phân bố địa bàn) và Chương 3 (về dữ liệu biến đổi sinh kế từ cây lương thực sang cà phê, biến đổi nhà ở và quan hệ tộc người).
Câu hỏi thường gặp
1. Tiến trình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng được phân chia thành các giai đoạn lịch sử nào?
Luận án chia tiến trình này làm 2 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1976 - 1986: Di dân có tổ chức theo chính sách kinh tế mới chiếm ưu thế; di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc chỉ diễn ra lẻ tẻ với số lượng ít.
- Giai đoạn 1986 - 2015: Chia làm 2 thời kỳ rõ rệt: từ đầu thập niên 1990 đến năm 2004 diễn ra ồ ạt với số lượng lớn; từ năm 2005 đến năm 2015 số lượng người đến giảm mạnh.
2. Mẫu điều tra xã hội học định lượng của luận án được tính toán và phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu sinh áp dụng công thức Slovin với sai số chọn mẫu 5% trên tổng thể 53.233 người thuộc 4 dân tộc (Cục Thống kê Lâm Đồng, 2019), xác định dung lượng mẫu tối ưu là $n = 397$ người. Mẫu phân bổ theo tỷ lệ dân số thực tế: người Nùng chiếm 46% (183 mẫu), người Tày chiếm 38% (151 mẫu), người Hmông chiếm 9,8% (39 mẫu) và người Dao chiếm 6,2% (24 mẫu). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
3. Vì sao luồng di cư của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng được định danh là hình thái di dân nông thôn – nông thôn?
Bởi vì người di cư xuất phát từ các vùng nông thôn, miền núi khó khăn ở 14 tỉnh phía Bắc và khi đến Lâm Đồng, họ không lựa chọn chuyển vào các đô thị lớn (như Đà Lạt, Bảo Lộc) hay các trung tâm huyện lỵ mà tìm đến các vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh nông thôn (huyện Đam Rông, Lâm Hà, Cát Tiên...) nhằm tìm kiếm đất sản xuất nông nghiệp, tiếp tục duy trì phương thức sinh kế nông nghiệp với tâm lý "ly hương bất ly nông".
4. Cộng đồng di cư có những biến đổi kinh tế và văn hóa nổi bật nào tại vùng đất mới?
Về kinh tế, đồng bào chuyển đổi căn bản từ làm nương rẫy độc canh, du canh sang thâm canh cây công nghiệp lâu năm hàng hóa, chủ lực là cà phê, nâng cao thu nhập hộ gia đình. Về văn hóa, đồng bào chuyển đổi kiến trúc nhà ở từ nhà sàn, nhà trình tường truyền thống sang nhà trệt kiên cố bằng gạch, lợp tôn; trang phục truyền thống ít dùng trong sinh hoạt hàng ngày mà chủ yếu mặc vào dịp lễ tết; xuất hiện sự chuyển biến tín ngưỡng và sự gia nhập đạo Tin Lành (nhất là ở người Hmông, Dao).
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp căn bản nào nhằm giải quyết vấn đề di cư tự do?
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp: Ổn định địa bàn cư trú; ổn định đời sống và phát triển sản xuất; xây dựng các điểm tái định cư theo hướng bền vững và bảo tồn văn hóa truyền thống; đầu tư phát triển kinh tế – xã hội cho nơi xuất cư tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc để triệt tiêu các yếu tố "lực đẩy".
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hà Giang là công trình chuyên khảo lịch sử phục dựng toàn diện quá trình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015. Bằng cách kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử với điều tra xã hội học định lượng và điền dã dân tộc học, công trình đã làm sáng tỏ quy luật, nguyên nhân, đặc điểm của luồng di chuyển nông thôn – nông thôn cũng như những chuyển biến sâu sắc về kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng di cư tại vùng đất mới. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần hoàn thiện bức tranh lịch sử hình thành cộng đồng dân cư tỉnh Lâm Đồng mà còn cung cấp luận cứ khoa học xác thực cho công tác quản lý nhà nước và chính sách phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số.