Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đàm Thị Tấm, chuyên ngành Nhân học (mã số: 9 31 03 02) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Ngọc Thanh và PGS. Lâm Bá Nam (bảo vệ năm 2020).
Tổ chức bản (làng) giữ vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa - xã hội của các cộng đồng tộc người thiểu số tại vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam. Bản vừa là đơn vị cư trú, vừa là không gian văn hóa thể hiện tính cộng đồng, tính tự quản và bảo lưu các phong tục tập quán, hương ước, quy ước truyền thống. Trải qua các biến động lịch sử thế kỷ XX và công cuộc đổi mới, hội nhập thế kỷ XXI, tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình đứng trước quá trình chuyển dịch mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tiêu biểu là Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tại tỉnh Thái Nguyên, người Nùng có dân số 63.816 người (chiếm 5,7% dân số toàn tỉnh); riêng tại huyện Đồng Hỷ, người Nùng có 17.178 người (chiếm 18,93% dân số huyện). Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: trước đây các công trình về người Nùng chủ yếu tiếp cận đơn lẻ từng khía cạnh như nhà cửa, trang phục, tôn giáo, tín ngưỡng, tang ma; chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện và hệ thống về tổ chức bản của nhóm Nùng Phàn Slình tại địa bàn huyện Đồng Hỷ trong mối quan hệ giữa yếu tố truyền thống và sự biến đổi đương đại.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Từ nguồn tài liệu điền dã Dân tộc học - Nhân học, chỉ rõ đặc điểm và vai trò của bản người Nùng Phàn Slình truyền thống và biến đổi.
- Phân tích vai trò, vị trí của bản trong xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế của địa phương.
- Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi của tổ chức bản truyền thống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về làng/bản; vận dụng các khung lý thuyết và hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài.
- Làm rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử cư trú, đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội và khái quát địa bàn nghiên cứu.
- Nghiên cứu hình thức cư trú, cấu trúc và các mối quan hệ xã hội của bản người Nùng Phàn Slình trong trạng thái truyền thống và biến đổi.
Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình, bao gồm các nội dung về đặc điểm cư trú, cấu trúc bản và các mối quan hệ xã hội truyền thống và biến đổi.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu sâu tại 4 xã có đông đồng bào Nùng Phàn Slình sinh sống ổn định thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, bao gồm: xã Hòa Bình, xã Tân Long, xã Văn Hán và xã Văn Lăng.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình biến đổi từ trước năm 1945 và giai đoạn từ sau năm 1945 đến năm 2019 (gắn liền với các mốc xóa bỏ chính quyền thuộc địa - phong kiến, thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp 1960 - 1986, giai đoạn Đổi mới từ 1986 và đặc biệt là giai đoạn tái đề cao tính tự quản từ sau năm 1995 đến nay).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan theo hai khối tư liệu quốc tế và trong nước:
Về nghiên cứu quốc tế:
- Các ghi chép sơ kỳ từ thế kỷ XVII - XVIII của thương nhân phương Tây về làng xã Việt Nam như S. Baron (Mô tả vương quốc Đàng ngoài), Richard (Lịch sử Đàng ngoài), Alexandre de Rhodes (Vương quốc Đàng ngoài, hành trình và truyền giáo).
- Các công trình chuyên khảo về không gian và cấu trúc làng: Katherine D. Blair (Four Villages: Architecture in Nepal); Clarence J. Glacken (Studies of Okinawan Village Life) phân loại ba hình thức cư trú (theo cụm, mật tập, rải rác); Lemoine Jacques (Một làng Hmông Xanh ở Thượng Lào, 1973) nghiên cứu tổ chức xã hội, kinh tế hộ gia đình; Georges Condominas (Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, 1997) phân tích làng Sar Luk dưới chiều cạnh không gian - thời gian xã hội và chu kỳ sinh thái; Mohinder Singh Randhawa (Developing village India: Studies in village problems) và Christer Gunnarsson, Mason C. Hoadley (The Village Concept in the Transformation of Rural Southeast Asia) nghiên cứu về chuyển đổi nông thôn ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Về nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu làng Việt: Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Ngô Tất Tố (Việc làng), Hoàng Đạo (Bùn lầy nước đọng), Nguyễn Hồng Phong (Xã thôn Việt Nam), Viện Sử học (Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại), Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ), Bùi Xuân Đính (Hương ước và quản lý làng xã, Hành trình về làng Việt cổ, Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai), Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hóa, Làng Việt Nam đa nguyên và chặt), Nguyễn Quang Ngọc (Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVII - XIX, Một số vấn đề làng xã Việt Nam), Diệp Đình Hoa và nhóm tác giả (Làng Nguyễn: Tìm hiểu làng Việt).
- Nghiên cứu làng bản dân tộc thiểu số: Cầm Trọng và Nguyễn Ngọc Thanh (1993, phân loại làng bản theo vùng địa lý và hình thái kinh tế - xã hội); Phương Bằng (Báo cáo điền dã dân tộc học Bản Tày); các bài viết của Nguyễn Ngọc Thanh về thiết chế làng bản người Dao Đỏ, Hmông, Dao Quần Chẹt, Hà Nhì, Cao Lan; Hoàng Bé và Hoàng Minh Lợi (nghiên cứu làng bản Tày ở Bắc Kạn); Đỗ Thúy Bình (hôn nhân và gia đình Tày, Nùng, Thái); Trần Văn Quyền (làng bản Tày ở Võ Nhai); Triệu Quỳnh Châu (làng bản Tày ở Trùng Khánh); Lý Hành Sơn (làng bản người Dao).
- Nghiên cứu chuyên biệt về dân tộc Nùng và Nùng Phàn Slình: Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Văn Thư, Hoàng Hoa Toàn; Viện Dân tộc học (1992, Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam); Hoàng Nam (1992, Dân tộc Nùng ở Việt Nam); Đàm Thị Uyên (văn hóa bản Nùng Cao Bằng); Hoàng Minh Lợi, Phan Đình Thuận (nhà ở người Nùng); Lê Văn Bé (trang phục Nùng); Vương Xuân Tình và Nguyễn Ngọc Thanh (tập quán bảo vệ rừng và luật tục quản lý tài nguyên); Trần Văn Hà (tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp sau Khoán 10); Nguyễn Thị Yên (làng nghề và tín ngưỡng Tày Nùng); Nguyễn Anh Tuấn (vốn xã hội và "sổ nợ đời" qua tang ma ở Tân Long); Nguyễn Thị Ngân (nghiên cứu tang ma và tổ chức "hàng phường" của người Nùng Phàn Slình tại Thái Nguyên); Lê Minh Anh (quan hệ dòng họ Nùng Phàn Slình ở Cao Lộc, Lạng Sơn).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết: Khắc phục hạn chế của các công trình đi trước (vốn chủ yếu mô tả bản dưới góc độ tĩnh/truyền thống, ít phân tích tiến trình biến đổi mô hình quản lý qua các mốc lịch sử và chưa gắn với bối cảnh thực tiễn xây dựng nông thôn mới), luận án đi sâu phân tích toàn diện tổ chức bản Nùng Phàn Slình tại địa bàn cụ thể (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) từ cấu trúc không gian, thiết chế quản lý, quan hệ dòng họ - liên tộc người cho đến các vấn đề đặt ra trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án vận dụng hai lý thuyết trọng tâm của Nhân học và Xã hội học:
- Lý thuyết Không gian xã hội:
- Tiếp cận quan điểm của Henri Lefebvre: Không gian bao gồm không gian tự nhiên và không gian xã hội (sản phẩm do con người sản xuất thông qua quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất). Lefebvre chỉ ra ba chiều cạnh: (i) hoạt động không gian (spatial practice), (ii) các thể hiện của không gian (representations of space), và (iii) không gian thể hiện (representational spaces).
- Tiếp cận của Georges Condominas (L'espace social): Không gian xã hội được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người (quan hệ với môi trường sinh thái, trao đổi của cải, giao tiếp, quan hệ họ hàng và xóm giềng).
- Luận án xem bản của người Nùng Phàn Slình là một không gian xã hội - văn hóa sinh tồn, nơi diễn ra sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và mạng lưới quan hệ xã hội đa tầng.
- Lý thuyết Biến đổi xã hội:
- Kế thừa các quan điểm từ cấu trúc - chức năng (Marx Gluckman phân biệt biến đổi lặp lại trong hệ thống và biến đổi của toàn bộ hệ thống), nhân học hiện đại (Thomas Barfield, Peter Dwyer và Monica Minnegal với khái niệm thích nghi và chuyển đổi).
- Phân tích sự biến đổi của tổ chức bản dưới tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh (chính sách của Đảng, Nhà nước, chương trình nông thôn mới, kinh tế thị trường).
Các khái niệm then chốt được định nghĩa và chuẩn hóa trong luận án: Bản; Tổ chức xã hội (Social organization); Tổ chức hội (Association - nhóm, mạng lưới, loại); Truyền thống; Biến đổi; Biến đổi xã hội (Social change); Sở hữu tập thể; Sở hữu cá nhân; Sở hữu đất đai; Sự chiếm hữu đất đai (Land tenure - gồm quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền quản trị); Sở hữu chung của cộng đồng; Hương ước/Quy ước; Thiết chế tự quản; Gia đình.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp hệ thống phương pháp định tính chuyên ngành Dân tộc học/Nhân học:
- Phương pháp điền dã Dân tộc học (thực hiện liên tục từ năm 2013 đến hết năm 2019):
- Quan sát và quan sát tham dự: Quan sát tài nguyên, nguồn nước, khu sản xuất, khu chăn thả, nghĩa địa, rừng ma; trực tiếp tham dự các sinh hoạt cộng đồng, lễ tết, hội hè, tang ma, cưới xin, họp bản, họp hàng phường.
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ xã, già làng, trưởng bản, thầy cúng (Mo, Tào), nghệ nhân dân gian, cán bộ hưu trí và người dân về lịch sử di cư, phong tục, quy ước bảo vệ rừng, đất đai và các chương trình dự án (thời lượng khoảng 1 giờ/cuộc).
- Thảo luận nhóm: Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm (thời lượng 2 giờ/cuộc) với 4 nhóm đối tượng cụ thể (nhóm nam giới; nhóm phụ nữ; nhóm hỗn hợp nam - nữ; nhóm cán bộ các cấp), mỗi nhóm từ 6 đến 8 người nhằm thu thập thông tin đa chiều.
- Phương pháp so sánh: So sánh đồng đại giữa người Nùng Phàn Slình với các nhóm Nùng khác (Nùng Cháo, Nùng An) và các dân tộc lân cận (Kinh, Tày, Dao); so sánh lịch đại giữa bản truyền thống (trước 1945) và bản biến đổi (sau 1945, sau 1986 và hiện nay).
- Phương pháp biểu đồ: Xây dựng biểu đồ hình cột để định lượng hóa cơ cấu và tỷ lệ % phân bố các dòng họ tại các điểm nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và khai thác tài liệu thứ cấp: Xử lý số liệu lưu trữ từ UBND các xã khảo sát, UBND huyện Đồng Hỷ, Tỉnh ủy Thái Nguyên, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Lưu trữ và Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và tộc người nghiên cứu
Chương 1 xác lập hệ thống tổng quan học thuật, khung lý thuyết, các khái niệm công cụ, đồng thời phác họa bức tranh lịch sử tộc người và địa bàn khảo sát.
Người Nùng Phàn Slình tại Đồng Hỷ có nguồn gốc lịch sử từ châu Vạn Thành (Quảng Tây, Trung Quốc), tên gọi "Phàn Slình" là biến âm từ địa danh Vạn Thành. Họ di cư sang Việt Nam cách đây từ 200 - 300 năm, cư trú ban đầu tại các huyện Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc, Hữu Lũng thuộc tỉnh Lạng Sơn, sau đó tiếp tục thiên di xuống huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) vào đầu thế kỷ XX (dồn dập trong giai đoạn 1920 - 1930 và kéo dài đến những năm 1970). Nguyên nhân di cư chủ yếu do thiếu đất canh tác, nạn đói, áp bức bóc lột, mâu thuẫn nội tộc hoặc tránh sự truy quét sau khởi nghĩa Bắc Sơn (1940).
Về văn hóa truyền thống, người Nùng Phàn Slình cư trú trong các nếp nhà sàn bốn mái lợp ngói âm dương, phân chia không gian sinh hoạt theo trục trên - dưới, trong - ngoài. Hệ thống tín ngưỡng phản ánh vũ trụ quan vạn vật hữu linh, thờ cúng tổ tiên (trổ), Thổ Công, Bà Mụ (Mẻ Joọc), Táo Quân (Pẹc Chào hoặc Mể Ngộ Tày), ma cửa (phí pạc tu), và đặc biệt là tục thờ ma ngoài sàn (phí tháng sàn) thờ An Phủ Đại Vương (Nùng Trí Cao). Chế độ thân tộc phụ hệ quy định chặt chẽ việc đặt tên đệm theo thế hệ (Tăng, Sào, Chấn, Tô, Tình, Sình, Trung, Dỉ...) và tuyệt đối cấm kết hôn nội dòng họ (slình).
Tổng hợp đặc điểm 4 địa bàn khảo sát điền dã của luận án:
| Địa bàn xã |
Diện tích ($km^2$) |
Cơ cấu dân số và thành phần tộc người |
Đặc điểm kinh tế chính |
Hiện trạng xây dựng Nông thôn mới |
| Xã Hòa Bình |
12,46 |
726 hộ, 2.900 người (7 bản); Kinh chiếm 54%, Nùng có 816 người; Tày, Sán Chay, Mường, Sán Dìu, Dao |
Lúa (228 ha), ngô (204 ha), chè (233 ha), chăn nuôi gia súc, gia cầm |
Đạt chuẩn Nông thôn mới theo QĐ số 2091/QĐ-UBND (20/08/2015); tiêu chí thu nhập còn thấp |
| Xã Tân Long |
141,14 |
1.519 người/hộ địa bàn (8 dân tộc); Nùng đông nhất: 844 hộ/3.092 người (47,43%), Kinh (21,26%), Hmông (14,34%), Dao (8,94%) |
Nông nghiệp lúa nước, trồng chè, cây ăn quả; chăn nuôi dê |
Xã vùng cao khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo trên 20%, chủ yếu hộ cận nghèo |
| Xã Văn Hán |
65,46 |
1.546 hộ, trên 10.000 người (17 bản; 8 dân tộc); Kinh (55,6%), Nùng: 3.496 người (36,5%), Sán Chay (5,7%) |
Cây chè là mũi nhọn (815 ha kinh doanh, 5 làng nghề chè), lúa (1.300 ha), 5 trang trại chăn nuôi |
Đạt chuẩn Nông thôn mới theo QĐ số 582/QĐ-UBND (28/02/2019); kinh tế phát triển cao |
| Xã Văn Lăng |
63,03 |
4.555 người (16 bản; 8 dân tộc); Kinh (32,3%), Hmông (29,7%), Dao (17,7%), Nùng: 691 người (15,1%) |
Nông nghiệp chiếm trên 98%; chuyển đổi đồi thấp sang trồng chè, rừng; nuôi gà, dê |
Xã vùng cao xa trung tâm, địa hình hiểm trở, đang chuyển dịch kinh tế |
Chương 2: Đặc điểm, cấu trúc bản của người Nùng Phàn Slình
Chương 2 phân tích các chiều cạnh cấu trúc không gian và cấu trúc xã hội của bản:
- Tiêu chí phân loại và tên gọi của bản: Bản được phân loại theo địa hình cư trú (bản thung lũng, bản sườn đồi, bản ven suối) hoặc theo cơ cấu cư trú tộc người (bản thuần nhất tộc người Nùng Phàn Slình hoặc bản đa tộc người). Tên bản thường gắn với địa danh tự nhiên, địa hình (đầm, bãi, mây, mỏ nước) hoặc tên hành chính mới.
- Nguyên tắc lập bản và tổ chức không gian: Bản truyền thống được thiết lập dựa trên các yếu tố sinh thái bắt buộc gồm: nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, đất canh tác thung lũng/chân đồi, rừng đầu nguồn và địa thế phong thủy lưng tựa đồi núi, mặt hướng ra cánh đồng. Không gian bản là một phức hợp bao gồm: khu gia cư (nhà sàn, vườn cây, ao cá, chuồng trại), khu sản xuất (ruộng nước, nương rẫy), khu rừng chung (rừng phòng hộ, rừng ma - nghĩa địa dòng họ) và hệ thống đường mòn ranh giới bản.
- Thành phần dân cư và cấu trúc dòng họ: Bản truyền thống thường có từ vài dòng họ cùng chung sống, trong đó luôn có dòng họ ngụ cư đầu tiên (khai phá lập bản) giữ vai trò chủ chốt. Tác giả khảo sát cơ cấu dòng họ qua số liệu biểu đồ tại các bản tiêu biểu:
- Bản Tân Đô (xã Hòa Bình): dòng họ Hoàng, họ Lâm, họ Triệu...
- Bản Ba Đình, Đồng Mẫu, Làng Mới, Đồng Mây (xã Tân Long): chiếm đa số là các dòng họ Lăng, Lâm, Lý, Vương, Lường...
- Bản Cầu Mai, La Đùm (xã Văn Hán): tập trung dòng họ Hoàng, họ Lăng...
- Bản Khe Quân, Khe Moong (xã Văn Lăng): cơ cấu dòng họ Nùng xen cư cùng người Hmông, Dao.
Chương 3: Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản
Chương 3 khảo sát các hình thái thiết chế pháp lý - xã hội và mạng lưới quan hệ cộng đồng:
- Sở hữu và sử dụng đất đai: Phân tích tiến trình chuyển biến quyền chiếm hữu đất đai (land tenure) qua 4 giai đoạn lịch sử:
- Trước 1945: Tồn tại song song đất công làng bản (rừng chung, khu chăn thả) và đất sở hữu tư nhân do khai phá.
- Thời kỳ Cải cách ruộng đất (1954 - 1960): Xóa bỏ địa chủ, phân chia lại ruộng đất cho nông dân nghèo.
- Thời kỳ Hợp tác xã nông nghiệp (1960 - 1986): Tập thể hóa toàn bộ tư liệu sản xuất và đất đai vào hợp tác xã bậc cao, vai trò bản truyền thống bị mờ nhạt.
- Thời kỳ Đổi mới (sau 1986, đặc biệt từ Luật Đất đai 1993): Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ gia đình (sử dụng tư liệu thống kê diện tích ruộng đất giao cho các hộ tại bản Cầu Mai, La Đùm, Ba Đình, Đồng Mẫu, Làng Mới năm 1993).
- Hình thức quản lý bản: Chuyển biến từ bộ máy tự quản truyền thống (đứng đầu là già làng, trưởng họ, thầy Mo/Tào điều hành bằng quy ước, tập quán truyền miệng) sang thiết chế quản lý hiện đại (Trưởng thôn/xóm, Bí thư chi bộ, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội).
- Quan hệ cộng đồng trong bản: Mạng lưới quan hệ đan xen chặt chẽ giữa quan hệ thân tộc (dòng họ phụ hệ) và quan hệ láng giềng/địa vực. Thiết chế "hàng phường" là một tổ chức xã hội phi chính thức đặc thù của người Nùng Phàn Slình, hoạt động trên nguyên tắc tương trợ tự nguyện, hỗ trợ lẫn nhau về nhân lực, vật lực trong các biến cố sinh - tử (đặc biệt trong tang ma và cưới hỏi).
- Quan hệ liên tộc người: Mối quan hệ tương tác, hỗ trợ kinh tế và giao lưu văn hóa giữa người Nùng Phàn Slình với các dân tộc cùng cư trú trên địa bàn (người Kinh, Tày, Dao, Hmông, Sán Chay) trong việc trao đổi kinh nghiệm sản xuất nông - lâm nghiệp và duy trì an ninh trật tự địa phương.
Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi của bản và một số vấn đề đặt ra
Chương 4 đúc kết các quy luật vận động và đề xuất giải pháp chính sách:
- Yếu tố tác động đến sự biến đổi: (1) Chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước; (2) Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới; (3) Tác động của kinh tế thị trường, cơ giới hóa nông nghiệp và đô thị hóa; (4) Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người.
- Các xu hướng biến đổi chính:
- Biến đổi không gian và hình thức cư trú: Nhà sàn truyền thống có xu hướng giảm hoặc cải tạo, xuất hiện nhà xây kiểu người Kinh; chuồng trại được đưa xa nhà ở để đảm bảo vệ sinh môi trường; hệ thống đường giao thông liên bản được bê tông hóa.
- Biến đổi thiết chế quản lý: Vai trò Trưởng thôn/xóm được củng cố theo hướng chuẩn hóa hành chính, quy ước/hương ước bản được văn bản hóa kết hợp giữa luật tục và luật pháp hiện hành.
- Biến đổi quan hệ xã hội và kinh tế: Kinh tế tự cung tự cấp chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa (trồng chè đặc sản, làm kinh tế trang trại); cơ cấu dòng họ mở rộng phạm vi giao lưu hôn nhân liên tộc người.
- Biến đổi văn hóa - tín ngưỡng: Nhiều nghi lễ rườm rà trong tang ma, cưới xin được giản lược; trang phục truyền thống ít dùng trong đời sống hàng ngày; nghệ thuật dân gian (hát Sli, Cò lảu, phắt xòi) đứng trước nguy cơ mai một.
- Các vấn đề đặt ra và hệ thống khuyến nghị, giải pháp:
- Vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa yêu cầu hiện đại hóa hạ tầng nông thôn mới với việc bảo tồn cảnh quan và kiến trúc nhà sàn truyền thống; nguy cơ phai nhạt bản sắc tộc người trong giới trẻ; vấn đề phân hóa giàu nghèo và việc làm nông thôn.
- Khuyến nghị và giải pháp: Bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống tích cực (tinh thần tương trợ của hàng phường, quy ước bảo vệ rừng); lồng ghép các tiêu chí nông thôn mới phù hợp với đặc thù tộc người; hỗ trợ vốn và khoa học kỹ thuật để phát triển các làng nghề chè truyền thống; khôi phục các lễ hội văn hóa (Lễ hội Lồng tồng, Oóc pò).
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
- Vận dụng thành công Lý thuyết Không gian xã hội và Lý thuyết Biến đổi xã hội vào nghiên cứu thực nghiệm một loại hình thiết chế xã hội tộc người thiểu số vùng trung du miền núi phía Bắc.
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm các khái niệm về bản, tổ chức xã hội, thiết chế tự quản, quyền chiếm hữu đất đai (land tenure) trong bối cảnh quá độ từ xã hội truyền thống sang hiện đại.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp một chuyên khảo toàn diện, chuyên sâu đầu tiên về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với hệ thống tư liệu điền dã phong phú (2013 - 2019).
- Làm sáng tỏ cấu trúc không gian, cơ cấu dòng họ, thiết chế tự quản truyền thống và sự chuyển dịch của các mối quan hệ xã hội dưới tác động của chính sách Đổi mới và Chương trình Nông thôn mới.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các cấp quản lý tại địa phương hoạch định chính sách dân tộc, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người Nùng Phàn Slình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực địa tại 4 xã (Hòa Bình, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng) thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với các mốc dữ liệu cập nhật đến năm 2019; chưa thể bao quát toàn bộ các địa bàn cư trú khác của người Nùng Phàn Slình ở các huyện lân cận như Võ Nhai hay Đại Từ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh giữa tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên với cộng đồng gốc tại Lạng Sơn (Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc) hoặc các nhóm Nùng Phàn Slình đã di cư đến vùng Tây Nguyên; nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển đổi vai trò giới và vốn xã hội của các thiết chế dòng họ trong giai đoạn chuyển đổi số nông thôn.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các bộ môn Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học nông thôn, Lịch sử văn hóa Việt Nam. Đáng chú ý là phương pháp tiếp cận không gian xã hội, kỹ thuật xử lý tư liệu điền dã dân tộc học và mô hình phân tích cấu trúc dòng họ - thiết chế tự quản.
- Đối với cán bộ quản lý và người làm chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Ban Dân tộc, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, chính quyền địa phương cấp huyện/xã trong việc triển khai tiêu chí xây dựng Nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng quy ước thôn bản và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Tên gọi "Nùng Phàn Slình" có nguồn gốc từ đâu và lịch sử di cư đến Đồng Hỷ diễn ra như thế nào?
Tên gọi "Phàn Slình" bắt nguồn từ địa danh Vạn Thành Châu (thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) - quê hương cổ xưa của nhóm cư dân này, được chuyển âm sang tiếng Việt. Người Nùng Phàn Slình di cư sang Việt Nam khoảng 200 - 300 năm trước, ban đầu định cư tại các huyện Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (tỉnh Lạng Sơn). Họ bắt đầu di cư xuống huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) vào đầu thế kỷ XX, cao điểm là giai đoạn 1920 - 1930 và kéo dài rải rác đến thập niên 1970 do thiếu ruộng nước, nạn đói, mâu thuẫn nội tộc hoặc tránh sự truy lùng sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940.
2. Điểm đặc trưng trong tục thờ ma ngoài sàn của người Nùng Phàn Slình là gì?
Tục thờ ma ngoài sàn (phí tháng sàn hoặc phi an phủ) là nghi lễ thờ cúng vị thần An Phủ Đại Vương (tức danh tướng Nùng Trí Cao). Đồng bào quan niệm vị thần này rất linh thiêng. Mỗi khi gia đình mổ lợn phải cúng tại sàn phơi trước khi đem bán hoặc chế biến. Mỗi dòng họ có bài cúng, hèm cúng (hồ lọc) riêng biệt do thầy cúng hoặc người già trong gia đình thực hiện và truyền dạy nội bộ.
3. Khung lý thuyết chính được tác giả vận dụng trong luận án là gì?
Luận án vận dụng hai khung lý thuyết cốt lõi: (1) Lý thuyết Không gian xã hội của Henri Lefebvre (không gian tự nhiên và không gian xã hội gồm 3 chiều kích) và Georges Condominas (không gian xã hội gắn với hệ thống quan hệ tộc người và chu kỳ sinh thái); (2) Lý thuyết Biến đổi xã hội (kế thừa các luận điểm của Marx Gluckman, Thomas Barfield, Peter Dwyer và Monica Minnegal về quá trình thích nghi và chuyển đổi cấu trúc thể chế).
4. Địa bàn điền dã và thời gian thu thập dữ liệu thực tế của luận án diễn ra khi nào?
Nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát điền dã liên tục từ năm 2013 đến hết năm 2019. Địa bàn nghiên cứu tập trung tại 4 xã có đông người Nùng Phàn Slình cư trú thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên gồm: xã Hòa Bình (7 bản), xã Tân Long (nổi bật là các bản Ba Đình, Đồng Mẫu, Làng Mới, Đồng Luông, Đồng Mây), xã Văn Hán (các bản Cầu Mai, La Đùm...) và xã Văn Lăng (các bản Khe Quân, Khe Moong...).
5. Thiết chế "hàng phường" trong bản của người Nùng Phàn Slình có vai trò gì?
"Hàng phường" là một thiết chế xã hội phi quan phương (phi chính thức) mang tính tự quản truyền thống trong bản. Tổ chức này hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện và tương trợ cộng đồng, có vai trò huy động sức người, tiền của và phương tiện để hỗ trợ các gia đình thành viên khi có công việc lớn, đặc biệt là trong tổ chức tang ma và cưới xin, qua đó củng cố sự gắn kết bền chặt giữa các gia đình và dòng họ trong bản.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đàm Thị Tấm là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên dưới góc độ Nhân học. Tác phẩm đã phân tích rõ nét cấu trúc không gian sinh tồn, thiết chế quản lý, quan hệ dòng họ và tổ chức hàng phường truyền thống trong mối tương quan với tiến trình biến đổi hiện đại. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự chuyển dịch của bản làng miền núi trước tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và Chương trình Nông thôn mới. Đây là tài liệu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu dân tộc học và hoạch định chính sách văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.