CHƯƠNG 1: CƯỜNG ĐIỆU VÀ CÁCH NÓI CƯỜNG ĐIỆU CỦA NGƯỜI NAM BỘ 1.1 Phương thức cường điệu 1.1 Lối nói cường điệu trong tiếng Việt Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, không phải lúc nào chúng ta cũng dùng những từ ngữ hoặc cách nói để diễn tả thông thường theo bản chất của sự vật, hiện tượng. Đôi khi, thậm chí là khá thường xuyên, cách diễn đạt nói tăng hoặc nói giảm một đặc điểm, một thuộc tính nào đó nhằm tạo sự chú ý, gây ấn tượng mạnh, nhằm mang lại hiệu quả cao hơn và giúp người nói đạt được mục đích giao tiếp. Cách diễn đạt này cũng thường xuất hiện trong các tác phẩm văn chương vừa tạo ra hiệu quả nghệ thuật độc đáo vừa mang lại phong cách riêng cho tác giả. Những cách diễn đạt như vậy được gọi chung là lối nói cường điệu.
Cường điệu, hay còn gọi là phóng đại, thậm xưng, ngoa dụ là lối nói rất thông thường và quen thuộc trong ngôn ngữ hàng ngày, trong phong cách học đó là một trong những biện pháp tu từ. Về phương diện ngữ nghĩa, các thuật ngữ phóng đại, cường điệu, thậm xưng, ngoa dụ có nghĩa tương đương nhau. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông [52]: o Cường điệu: nhấn mạnh quá mức một mặt nào đó của sự vật, hiện tượng để làm cho người ta chú ý. o Ngoa dụ: cách nói so sánh phóng đại nhằm diễn đạt ý một cách mạnh mẽ.
o Phóng đại: tạo một hình ảnh giống hệt vật hay ảnh đã có nào đó, nhưng có kích thước lớn hơn nhiều lần; nói quá lên so với sự thật. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam [24]: Phóng đại là từ Hán Việt (phóng: buông thả; đại: lớn), nghĩa là làm to ra hơn bản chính, thổi phồng lên 10 Ngoa dụ là từ Hán Việt (ngoa: quá sự thật; dụ: rõ ràng), là phép tu từ dùng những lời quá sự thật để làm nổi bật một ý. Thậm xưng là từ Hán Việt (thậm: quá chừng; xưng: gọi tên), là dùng mĩ từ pháp nói quá sự thật. Cường điệu (điệu: chuyển sang chỗ khác): nhấn mạnh quá mức, thổi phồng.
Nhìn chung, nghĩa của các từ trên đều diễn tả những cách nói quá sự thật, thổi phồng lên để làm nổi bật một ý nào đó. Riêng từ cường điệu, ở cả hai quyển từ điển đều xuất hiện nét nghĩa “nhấn mạnh”. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [55]: phép phóng đại là phép tu từ gồm việc nói quá lên, cường điệu tính chất, mức độ, quy mô các sự vật, hiện tượng để làm nổi bật ý cần diễn đạt; còn gọi là thậm xưng, phép khoa trương. Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu việc sử dụng thuật ngữ phép phóng đại, phép thậm xưng hay khoa trương thực chất chỉ là một, chúng dùng để chỉ những cách diễn đạt quá sự thật, thổi phồng một tính chất, mức độ, quy mô các sự vật nhằm đạt hiệu quả trong giao tiếp hoặc nghệ thuật.
Về mặt thuật ngữ ngôn ngữ học, phóng đại và cường điệu là hai khái niệm luôn đi liền với nhau, không thể tách rời. Cường điệu (hyperbole) liên quan đến cách diễn đạt phóng đại để khẳng định hoặc phủ định một điều gì đó 1. Về phương thức biểu đạt tu từ, trong phong cách học đều thống nhất xem cường điệu là một phương thức phổ biến và khái quát được sử dụng trong các biện pháp tu từ khoa trương, ngoa dụ. Theo đó, ngoa dụ “…là phương thức cường điệu một mức độ, tính chất, đặc điểm nào đó của sự vật” [20, tr.214]; khoa trương “là cách tu từ dùng sự 1 D.
Asher, The encyclopedia of language and linguistics, Pergamon Press, 1994, Vol. “…hyperbole involves the exaggerated expression of a negative or positive appreciation of something” 11 cường điệu qui mô của đối tượng được miêu tả so với cách biểu hiện bình thường” [49, tr. Lối nói phóng đại từ lâu đã tồn tại trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày và cả văn chương nghệ thuật. Nhưng xét về tính chất, động cơ và mục đích, nó khác với nói khoác, nói đại ngôn, nói điêu hay nói phét.
Cùng sử dụng những yếu tố mang tính cường điệu nhưng “nói phóng đại không phải để xuyên tạc sự thật… mà cốt làm cho ta tin vào điều nói ra, hướng cho ta hiểu được điều nói lên” [38, tr. Trong bài ca dao sau người nghe không bao giờ bị “mắc lừa” vào những hình ảnh phóng đại đến mức khó tin, vô lý như vậy: Anh thương em, Thương lún, thương lụn, Thương lột da óc, Thương tróc da đầu, Ngủ quên thì nhớ, Thức dậy thì thương. (ĐHCT-VHDGĐBSCL-tr.333) Những hình ảnh “lột da óc”, “tróc da đầu” chỉ là cách diễn đạt để tăng cường, để nhân lên gấp nhiều lần nỗi nhớ thương cũng là một cách bày tỏ tình cảm mãnh liệt của chủ thể trữ tình. Đó cũng là mục tiêu cơ bản nhất của lối nói phóng đại: nhằm mục đích nhấn mạnh và khẳng định mức độ cao, thậm chí đẩy đến mức tuyệt đối hoặc nhằm mục đích làm nổi bật đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ.
Do vậy, ở phương diện nào đó, phóng đại chính là “một cách tác động, một cách gây ấn tượng” [26, tr. 12 Ở phạm vi của đề tài, chúng tôi sử dụng từ cường điệu để gọi tên một phương thức diễn đạt nhằm khẳng định gây ấn tượng mạnh cho người tiếp nhận. So với phóng đại, khoa trương hay thậm xưng, lối nói cường điệu ngoài nội hàm tương ứng còn thể hiện được khả năng nhấn mạnh, làm nổi bật ý cần diễn đạt. Cường điệu là một cách diễn đạt trong đó sử dụng các yếu tố ngôn ngữ để tăng cường, để nhân lên gấp nhiều lần tính chất hoặc sự việc có trong thực tế mà không làm thay đổi bản chất, nhằm mục đích nhấn mạnh và khẳng định mức độ cao.
Đôi khi vì muốn làm nổi bật ý cần diễn đạt, người sáng tạo văn bản có thể sử dụng cường điệu ở mức độ cao, vượt ra khỏi hiện thực. Lối nói cường điệu trong tiếng Việt sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của tiếng Việt, các hình ảnh tượng trưng mang sắc thái văn hóa Việt Nam tạo nên những phong cách biểu đạt đa dạng. Về mặt phong cách học, với tư cách là một cách tu từ của tiếng Việt, khái niệm cường điệu được sử dụng trong đề tài thống nhất với các tên gọi như khoa trương, ngoa dụ. Mặc dù có sự khác nhau trong cách gọi tên ở một số công trình nghiên cứu về phong cách học nhưng chúng đều dùng để chỉ một phương thức tạo nên các biện pháp tu từ đó: phương thức cường điệu.2 Các phương tiện được sử dụng để cường điệu trong ngôn ngữ Cường điệu là một biện pháp tu từ, là “những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật…) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng” [20, tr.
Những phương tiện ngôn ngữ được sử dụng ở đây rất đa dạng, bao gồm cách đơn giản nhất là dùng những từ ngữ mang sẵn ý nghĩa cường điệu đến cách phức tạp hơn là so sánh, ẩn dụ, hoán dụ tu từ. Những cách phối hợp nhằm tạo nên sự cường điệu như vậy được gọi chung là phương thức cường điệu. Các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để cường điệu Phương thức dùng những từ ngữ mang ý nghĩa cường điệu Sử dụng những từ, cụm từ mang nghĩa phóng đại 13 Sử dụng những hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng: nát miễu xiêu đình, thương (lún), thương (lụn)… Sử dụng số từ mang nghĩa khái quát, ước lệ: mười tám (gánh lông)… Các từ chỉ mức độ cao: rất, lắm, quá, cực điểm, cực độ, vô kể, vô cùng, tột bậc, trứ danh, tuyệt vời, tuyệt diệu, hết cỡ, hết xảy… Các từ được cố định lại mang ý nghĩa phóng đại: chết, kinh, dữ, khủng khiếp, ghê, kinh hồn, thấu trời, quá trời, quá xá, đến chết, thấy ông bà ông vải, hết chỗ nói, động trời, long trời lở đất… Các cách tu từ Phương thức so sánh: Đơn giản nhất là biểu thị so sánh hơn kém về số lượng: bằng năm, bằng mười, gấp vạn, gấp trăm, gấp nghìn, ba đầu sáu tay, ba chìm bảy nổi chín lênh đênh… So sánh bằng cách sử dụng các thành ngữ, tục ngữ được tạo ra theo lối phóng đại: chân cứng đá mềm, vá trời lấp biển, ruột để ngoài da… Phương thức ẩn dụ: Ẩn dụ thực chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lược đi chỉ còn lại vế được so sánh. Các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng để cường điệu - Sử dụng hình ảnh sự vật mang dấu ấn văn hóa địa phương.
- Sử dụng hình ảnh thiên nhiên phong phú, đa dạng. - Sử dụng hình ảnh sự vật, con người cụ thể nhưng cùng trường liên tưởng. Ví dụ: Chim khôn thì khôn cả lông/ Khôn đến cái lồng người xách cũng khôn.2 Phương thức cường điệu với các phong cách tiếng Việt 1.1 Xung quanh vấn đề tu từ học và phong cách học 14 Phong cách học xem cường điệu là một cách dùng biện pháp tu từ tùy theo điểm tham chiếu của từng tác giả. Dựa vào các cấp độ ngôn ngữ, Đinh Trọng Lạc xem ngoa dụ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, là “cách nhấn nghĩa, tạo nghĩa mới bất ngờ giàu màu sắc tu từ học” [20, tr.
Dựa vào quan hệ trong các đơn vị ngôn ngữ, tác giả Cù Đình Tú lại cho rằng khoa trương là một cách tu từ được cấu tạo theo quan hệ tổ hợp với những đặc điểm chung là “tính có ý thức và tính chủ động sắp xếp từ ngữ theo những quan hệ tổ hợp nhất định trong khuôn khổ của kết cấu từ vựng – ngữ pháp tiếng Việt nhằm tăng thêm hiệu lực cho sự diễn đạt về mặt chức năng nhận thức hay biểu cảm” [49, tr. Dù còn một số chi tiết khác nhau trong cách phân chia và nhìn nhận về tu từ học trong tiếng Việt nhưng về tổng thể, các tác giả đều thống nhất xem ngoa dụ/khoa trương (từ đây sẽ gọi chung là cường điệu) là một thành tố trong hệ thống tu từ tiếng Việt. Từ việc xác lập vị thế này mà cường điệu có đầy đủ các đặc điểm tu từ của cách tu từ tiếng Việt. “Cách tu từ (Figura) là những cách thức, hình thức diễn đạt bóng bẩy gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong khi trình bày” [49, tr.
Trong thực tế diễn đạt, cách tu từ là phương tiện biểu hiện chung của mọi phong cách chứ không chỉ là tài sản riêng của một phong cách nào.