ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) bao gồm những sản phẩm không phải gỗ có nguồn gốc sinh vật được khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng, và có nhiều giá trị sử dụng Lâm sản ngoài gỗ không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng. Đã từ lâu, lâm sản ngoài gỗ được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, hương nhang, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại lâm sản ngoài gỗ đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng. Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số loại lâm sản ngoài gỗ đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng.
Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này. Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như: song, mây, tre nứa… Sản xuất hương nhang như: hương bài, quế, thiên niên kiện … Trong tự nhiên có rất nhiều loại cây rừng có mủ thơm và có mùi đặc trưng, do đó đã được con người từ đời xa xưa đến nay sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có nghề làm hương (nhang). Đó là một nghề tạo ra sản phẩm được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trong đời sống người dân mà không gì thay thế được. Đặc biệt trong những ngày Tết, nhang càng được đốt nhiều hơn.
Vì ngày Tết có nhiều việc cúng kiếng: nào cúng đất 10 trời, cúng tổ tiên ông bà, cúng ông Táo… Và cây nhang trở thành vật không thể thiếu trong những ngày này. Những sợi khói nhang cuộn tròn, rồi phảng phất bay đi để lại mùi hương thoang thoảng, dịu dàng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc sống con người với đất trời, là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng. Khói nhang ngày Tết là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ Tết, đám ma. Có thể khẳng định, nhang đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ ngách của đời sống và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam.
Cây nhang, nén hương như chiếc cầu nối thiêng liêng giữa con người với cõi tâm linh, trời đất, thậm chí còn lan rộng đến một số nước ở châu Á và cộng đồng người Việt sống ở châu Âu cũng như toàn thế giới. Những ngày cuối năm, các gia đình khi đi mua sắm các thứ lễ vật để chuẩn bị cho ngày Tết, hầu như ai cũng mua những hộp nhang, hương thơm về cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên của mình. Khi vào thời khắc giao thừa, lúc giao hòa giữa năm cũ và năm mới, giữa trời và đất. Cả dân tộc Việt Nam đón chào hân hoan, cầu mong gia đạo bình an, đời sống thịnh vượng hạnh phúc và một năm làm ăn phát tài phát lộc.
Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại hương được người dân sử dụng có nguồn gốc khác nhau, với nguyên liệu tạo ra đặc trưng của từng vùng, miền mà tạo ra mùi hương khói riêng biệt, được người dân ở đó và các khu vực xung quanh ưa chuộng, tin dùng tạo nên một thói quen sử dụng những sản phẩm chính nơi họ tạo ra. Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số loài cây nguyên liệu làm hương của đồng bào dân tộc Tày tại xã Tân Hợp - huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái” nhằm nghiên cứu và bảo vệ nghề làm 11 hương, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tày tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên , tỉnh Yên Bái. Mục đích nghiên cứu Nhằm nghiên cứu các loài cây có thể làm hương tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái làm cơ sở khoa học đánh giá thực trạng sản xuất từ nguyên liệu sẵn có ở địa phương, đề xuất các giải pháp phát triển nhằm nâng cao chất lượng hương. Góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người dân, tận dụng nguồn lực, tiềm năng tại chỗ và góp phần bảo tồn được đa dạng sinh học.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Xác định được các loài cây trong tự nhiên có thể làm hương tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên,tỉnh Yên Bái. - Tìm hiểu được đặc tính sinh thái, sinh vật học và các chất có trong hương. - Đề xuất một số giải pháp phát triển và bảo tồn các loài cây nguyên liệu làm hương tại khu vực ngiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất một cách có hiệu quả. - Giúp bản thân tôi có thêm kinh nghiệm trong việc giao tiếp cộng đồng, làm việc với người dân, vận dụng kiến thức được học để đi điều tra, thu thập, xử lí số liệu và viết báo cáo một cách chính xác, hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn Góp phần giữ gìn và phát huy được nghề truyền thống có từ lâu đời ở địa phương, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Bảo tồn đa dạng sinh học, các cây nguyên liệu bản địa quý, có giá trị.
12 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Thấy được vai trò của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đối với các nước đang phát triển nhất là các nước vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã tiến hành nhiều dự án nhằm làm rõ vai trò của LSNG, các chính sách liên quan. Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp đặt tại Indonesia (CIFOR) đã chú trọng nhiều về LSNG. Trung tâm đã đề ra phương pháp phân tích với lâm sản thương mại thế giới.
Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF) đã và đang thực hiện làm thế nào để sản xuất, nâng cao chất lượng của cây rừng có nhiều tiềm năng. Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và trung tâm đào tạo vùng lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) cũng có nhiều nghiên cứu về LSNG trong đó cách tiếp cận về phương pháp luận về “từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ” coi nhiệm vụ của rừng là sản xuất cần thiết cho cung cấp bền vững, phân phối thu nhập, đảm bảo thị trường và chính sách thị trường định chế. Trên thế giới cộng đồng quốc tế, có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi tài nguyên rừng vào đầu những năm 1980. Một chiến lược bảo tồn mới được hình thành và khẳng định tính ưu việt của nó.
Đó là liên kết quản lý bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các họat động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Một dự án đã được thử nghiệm với tên gọi: “ quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Pu kheio Wildife Santuary, Tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên 13 là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các họat động thu nhập của họ”. LSNG không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng.
Đã từ lâu, LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại LSNG đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng. Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số LSNG đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này.
Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt nam [1] trong số 12000 loài cây được thống kê có: 76 loài cho nhựa thơm; 160 loài cho dầu; 600 loài cho tanin; 260 loài cho tinh dầu; 93 loài cho chất màu; 1498 loài cho các dược phẩm. Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú, 828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái [2]. Nhiều loại LSNG đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm như các loài song mây, tre nứa, các loài hoa…Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 - 2020, định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ). Đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị LSNG xuất khẩu tăng bình quân 15 - 20%; thu hút khoảng 1,5 triệu lao 14 động và thu nhập từ LSNG chiếm 15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn.
Các cây LSNG chính là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất, chế biến hương. nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân Châu Á bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến. Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng.