Tổng quan luận án

Công trình Tín ngưỡng của người Ba Na (huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai) được tác giả Trung Thị Thu Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Bùi Văn Đạo, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian (mã số: 62317005), chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ Văn hóa học.

Thông tin định danh Nội dung chi tiết
Tên luận án Tín ngưỡng của người Ba Na (huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai)
Tác giả Trung Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn GS. TS Bùi Văn Đạo
Cơ sở đào tạo Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Văn hóa dân gian (Mã số: 62317005)
Năm bảo vệ 2014
Quy mô văn bản 177 trang chính văn (kèm tài liệu tham khảo và phụ lục)

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Người Ba Na là một trong những cư dân tại chỗ lâu đời ở Tây Nguyên, có dân số đứng thứ ba trong các dân tộc thiểu số tại khu vực (sau Gia Rai và Ê Đê), đồng thời là tộc người có dân số đông nhất trong ngữ hệ Môn – Khmer tại Tây Nguyên (với trên 227.000 người theo số liệu năm 2009, cư trú tập trung tại Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên). Đến nửa cuối thế kỷ XIX, xã hội Ba Na vẫn ở giai đoạn cuối của công xã nguyên thủy; đời sống tinh thần chịu sự chi phối mạnh mẽ của tín ngưỡng vạn vật hữu linh truyền thống gắn với thiết chế làng.

Trong hơn một thế kỷ qua, đời sống văn hóa – xã hội của người Ba Na tại huyện Kông Chro có nhiều biến đổi dưới tác động của các điều kiện lịch sử mới. Tình hình an ninh chính trị và xã hội tại Tây Nguyên hiện nay được tác giả nhận định ở trạng thái "yên" nhưng chưa "ổn", xuất phát từ sự khủng hoảng niềm tin và sự phát triển phức tạp của các hiện tượng tôn giáo mới (Công giáo, Tin Lành, hiện tượng Hà Mòn). Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra là vừa phải tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân, vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người và loại trừ các yếu tố mê tín tiêu cực.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Ba Na ở góc độ dân tộc học và văn hóa dân gian nói chung, nhưng mảng tín ngưỡng của người Ba Na tại địa bàn huyện Kông Chro (tỉnh Gia Lai) vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống từ diện mạo truyền thống đến các chuyển biến đương đại sau năm 1975.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là giới thiệu một cách hệ thống và toàn diện bức tranh tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na nhằm làm sáng rõ đặc trưng văn hóa tộc người tại huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai; đồng thời chỉ rõ những biến đổi, lý giải nguyên nhân và nêu ra các vấn đề đặt ra trong bối cảnh từ sau năm 1975 đến nay.

Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:

  1. Làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện bức tranh tín ngưỡng truyền thống như một khía cạnh quan trọng của văn hóa tộc người Ba Na – tộc người tiêu biểu cho nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer ở Tây Nguyên.
  2. Xác định, phân tích và đánh giá các giá trị văn hóa – xã hội của tín ngưỡng trong đời sống của cộng đồng người Ba Na.
  3. Phân tích, lý giải quá trình và nguyên nhân gây biến đổi tín ngưỡng của người Ba Na từ sau năm 1975 đến nay; nhận diện tác động đối với phát triển kinh tế – xã hội bền vững và gợi mở các đề xuất chính sách.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tộc người Ba Na và các khía cạnh đời sống tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na tại huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai (quan niệm phân tầng vũ trụ, thần linh, linh hồn, điềm báo, kiêng kỵ, ma thuật, bói toán, vai trò của thầy cúng pơ jâu, gru, các hệ thống nghi lễ nông nghiệp, vòng đời và cộng đồng).
  • Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu):
    • Địa bàn khảo sát chính: Các làng thuộc huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai, gồm: làng Tơ Nung, làng Măng (xã Ya Ma); làng Nhang Lớn, làng Nhang Nhỏ, làng Htieng (xã Đăk Kơ Ning); làng Tpông 1, làng Lơng, làng Kun 1 (xã Yang Nam); làng Nghe Lớn, làng Bjang (thị trấn Kông Chro); làng Meo Lớn, làng Meo Nhỏ (xã Đak Pling); làng Kuel, làng Kuk, làng Sơ Ró (xã Sơ Ró).
    • Địa bàn so sánh, đối sánh: Huyện Kbang (làng Hà Nừng, làng Stơr); thị trấn Đăk Đoa (làng Dur, làng Klăk, làng Ngol, làng Pi ơm) thuộc tỉnh Gia Lai; thành phố Kon Tum (làng Kon Kơ Tu, KonTum Kơ Pâng, Konjodri) thuộc tỉnh Kon Tum.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát diện mạo tín ngưỡng truyền thống và theo dõi tiến trình biến đổi từ sau năm 1975 đến thời điểm thực hiện luận án (2014).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu tín ngưỡng người Ba Na qua bốn nhóm tư liệu chính:

Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài

  • Học giả người Pháp (từ nửa sau thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX):
    • Pierre Combes (khởi viết năm 1833) và linh mục Pierre Dourisboure với tác phẩm Dân Làng Hồ (Les sauvages Bahnars, 1873) ghi chép về địa lý, phong tục kiêng cữ, cấm đoán của các nhóm cư dân Bắc Tây Nguyên.
    • Jean-Baptiste Guerlach với các khảo cứu chuyên đề: Vùng người Bahnar hoang dã (Chez les sauvages Bahnars, 1884), Phong tục mê tín của người Bahnar hoang dã (Mœurs et superstitions des sauvages Bahnars, 1887), Kết hôn và lễ cưới của người Bahnar (1901), Tang lễ của người Bahnar (1903).
    • J. Kemlin công bố các công luận trên tập san Viện Viễn Đông Bác Cổ (BEFEO): Những lễ thức nông nghiệp của người Reungao (Les rites agraires des Reungao, 1909–1910), Những giấc mộng và việc giải thích những giấc mộng của người Reungao (1910), Tục kết thân của người Gơngao (Alliances chez les Reungao, 1917), lý giải các khái niệm pơhngol (hồn), ai (sức lực sinh động), mơhol (hộ mệnh) và thế giới cõi âm mang lung.
    • Henri Maitre với Khu vực của người Mọi ở Nam Đông Dương - cao nguyên Đắc Lắc (1909) và Rừng người Thượng (Les jungles Moï, 1912; bản dịch tiếng Việt của Lưu Đình Tuân, 2008).
    • Paul Guilleminet với các công trình: Nghiên cứu về những tín ngưỡng của các bộ lạc vùng cao An Nam, người Bâhnar Kon Tum và những người láng giềng của họ, những thuật bí (1942), Bộ lạc Bâhnar ở Kon Tum (Le tribu Bahnar du Kontum, 1948), Tập quán của bộ tộc Bahnar, Sedang và Djarai của tỉnh Kontum... (1952).
    • Jacques Dournes (bút danh Dam Bo) với các tác phẩm: Pơtao, một lý thuyết về quyền lực ở người Giarai Đông Dương (1977), Rừng, Đàn bà, Điên loạn (1950), Miền đất huyền ảo – các dân tộc miền núi Nam Đông Dương (1950), Chúa yêu những người ngoại đạo (Dieu aime les païens).
    • Sion John với Người Bahnar Jolong của tỉnh Kon Tum (Les Bahnars Jolong de la province de Kontum, 1949).
  • Học giả người Mỹ (từ cuối thập niên 1950 đến trước 1975):
    • Gerald C. Hickey với The major ethnic groups of the south vietnamese highland (1964) khảo sát tổ chức xã hội và tín ngưỡng kiêng kỵ của 6 nhóm tộc người (Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Mnông, Stiêng, Xơ Đăng).
    • Joann L. Schrock và các tác giả trong công trình Minority groups in the Republic of Vietnam (1966) do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ xuất bản.

Các nghiên cứu của tác giả Việt Nam

  • Thời kỳ phong kiến: Nguồn sử liệu thư tịch triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Phủ biên tạp lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ bước đầu phản ánh các quan hệ hành chính và phong tục biên viễn.
  • Giai đoạn trước năm 1975 ở miền Nam:
    • Võ Chuẩn với thiên biên khảo Kon Tum tỉnh chí (Tạp chí Nam Phong, 1933–1934).
    • Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi với chuyên khảo Mọi Kon Tum (1937), phân tích sâu về "triết lý tín ngưỡng", quan niệm thể xác (akâu), linh hồn (pơhngol), quan niệm "sinh ký tử quy" và hệ thống thần linh (yang).
    • Các bài viết của Lưu Danh Du (1957), Nghiêm Thẩm (1961), Lê Thị Ngọc Ái (1969), Nguyễn Trắc Dĩ (1970), Toan Ánh và Cửu Long Giang (1974).
  • Giai đoạn sau năm 1975 đến nay:
    • Trần Mạnh Cát (1979) khảo cứu nghi lễ cây lúa; Đặng Nghiêm Vạn (1981) chủ biên Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum; Bế Viết Đẳng (1984); Trần Từ (1986) khảo sát Hoa văn các dân tộc Giarai, Bana và chỉ ra hướng táng Đông – Tây của người chết; Ngô Vĩnh Bình (1991); Nguyễn Khắc Tụng (1991); Lê Trung Vũ, Nguyễn Hồng Dương (1996); Phạm Minh Thảo (2000).
    • GS. TS Bùi Minh Đạo với các công trình Trồng trọt truyền thống của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên (2000), Dân tộc Ba Na ở Việt Nam (2006) phân tích toàn diện kinh tế nương rẫy và hệ thống tín ngưỡng nông nghiệp.
    • Về địa bàn Gia Lai và Kông Chro: Tô Ngọc Thanh (chủ biên, 1988) với Fôklo Bâhnar tại An Khê cũ (gồm xã Nam và Ya Ma thuộc Kông Chro); Ngô Văn Doanh (1993, 1995, 2007) khảo cứu lễ bỏ mả (bơthi), nhà mồ và tượng mồ của các nhóm Ba Na Tơ Lô, Ba Na Kon Kơ Deh, Ba Na Roh ở Kông Chro; Nguyễn Thị Thu Loan (2002); Trần Thị Kim Vân (2011); luận án của Đoàn Tuấn Anh (2012) về nghi lễ nông nghiệp.
Nhóm nghiên cứu Đại diện tiêu biểu Đóng góp chính Hạn chế theo đánh giá của luận án
Học giả Pháp P. Dourisboure, J. Guerlach, J. Kemlin, P. Guilleminet, J. Dournes Thu thập nguồn tư liệu điền dã dân tộc chí ban đầu rất phong phú về phong tục, nghi lễ, tập quán Chịu ảnh hưởng quan điểm "dĩ Âu vi trung", nhìn nhận cư dân bản địa là lạc hậu; phục vụ mục đích cai trị thuộc địa
Học giả Mỹ G. C. Hickey, J. L. Schrock (SIL) Tổng hợp cấu trúc tộc người, bản đồ phân bố và hệ thống hóa phong tục Chủ yếu kế thừa tài liệu của Pháp, phục vụ điều tra nhân học quân sự
Học giả Việt Nam trước 1975 Võ Chuẩn, Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Nghiêm Thẩm Đặt nền móng nghiên cứu dân tộc học bản địa (Mọi Kon Tum), tôn trọng giá trị văn hóa người Ba Na Tư liệu còn tản mạn, chủ yếu tập trung tại Kon Tum, chưa đi sâu vào vùng Kông Chro
Học giả Việt Nam sau 1975 Bùi Minh Đạo, Tô Ngọc Thanh, Ngô Văn Doanh, Trần Từ, Đoàn Tuấn Anh Đi sâu vào từng thành tố văn hóa (nông nghiệp, nhà mồ, folklore, hoa văn) Chưa có công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện tín ngưỡng Ba Na tại huyện Kông Chro

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình trước đây hoặc chỉ khảo tả diện mạo chung của người Ba Na ở Bắc Tây Nguyên (chủ yếu là Kon Tum), hoặc chỉ đi sâu vào một số khía cạnh riêng lẻ (lễ thức nông nghiệp, lễ bỏ mả). Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về toàn bộ cấu trúc tín ngưỡng của người Ba Na trên địa bàn cụ thể là huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai gắn với bối cảnh va chạm và biến đổi văn hóa – tôn giáo đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Luận án tiếp cận đối tượng dưới góc độ Văn hóa học và Văn hóa dân gian, kế thừa các lý thuyết nhân học và tôn giáo học kinh điển:

  • Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo: Luận án điểm lại các quan niệm của E.B. Tylor (thuyết vật linh nguyên thủy – animism, niềm tin vào các đấng siêu nhiên), James Frazer (tôn giáo là sự hòa giải, làm nguôi ngoai các sức mạnh tự nhiên), Sigmund Freud (biểu hiện của quá trình tâm lý vô thức), Lucien Lévy-Bruhl (sản phẩm của tâm thức nguyên thủy), Bronislaw Malinowski (tín ngưỡng và ma thuật ra đời để giải tỏa lo âu khi con người đối mặt với hiểm nguy, bất trắc), S.A. Tokarev (tính bền vững của các hình thức tôn giáo sơ khai), Clifford Geertz (tôn giáo như một hệ thống biểu tượng văn hóa) và Scott. Tác giả chia sẻ quan điểm của Nguyễn Quốc Tuấn và Đặng Nghiêm Vạn: xem tín ngưỡng và tôn giáo không phân định ngôi thứ cao thấp, mà tín ngưỡng thực chất là tôn giáo bản địa, cấu thành từ 5 yếu tố: yếu tố thiêng + đức tin + biểu tượng + thực hành + cộng đồng.
  • Khái niệm nghi lễ: Tiếp cận theo định nghĩa của Victor Turner (hành vi mang tính nghi thức gắn với niềm tin siêu nhiên), Claude Lévi-Strauss (phản ứng của con người đối với cách tư duy về thế giới) và Robert H. Lavenda (4 đặc trưng: hoạt động xã hội lặp lại, tách riêng khỏi đời thường, tuân theo mô hình văn hóa, gắn với huyền thoại).
  • Khái niệm ma thuật: Vận dụng quan điểm của Tokarev về ma thuật như sự tác động siêu nhiên (trực tiếp hoặc gián tiếp) của con người vào đối tượng vật chất thông qua bùa chú, lời nguyền, nghi thức trừ tà, bắt nguồn từ y học dân gian, kỹ thuật săn bắn hay các quan hệ xung đột xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của nhân học và văn hóa dân gian:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học (Ethnographic Fieldwork): Là phương pháp chủ đạo. Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại các làng thuộc huyện Kông Chro, sử dụng kỹ thuật:
    • Quan sát và quan sát tham dự: Trực tiếp chứng kiến, ghi chép các nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ vòng đời, lễ hiến tế và sinh hoạt làng.
    • Phỏng vấn sâu cá nhân và phỏng vấn nhóm: Phỏng vấn các chủ thể văn hóa gồm già làng, thầy cúng (pơ jâu, gru), nghệ nhân dân gian và người dân địa phương.
  • Phương pháp phân tích văn bản và tư liệu thứ cấp: Xử lý các tài liệu dân tộc chí thời Pháp thuộc, thư tịch cổ, số liệu thống kê kinh tế – xã hội của địa phương và các báo cáo quản lý văn hóa cấp huyện, tỉnh.
  • Phương pháp so sánh – đối sánh:
    • So sánh lịch đại (diện mạo tín ngưỡng cổ truyền trước đây và các biến đổi sau năm 1975).
    • So sánh đồng đại (đối chiếu tập quán tín ngưỡng của các nhóm Ba Na tại Kông Chro như Tơ Lô, Kon Kơ Deh, Roh với các nhóm Ba Na tại huyện Kbang, huyện Đăk Đoa và thành phố Kon Tum).

Nội dung chính theo từng chương

BỐ CỤC LUẬN ÁN

Chương 1: Tình hình nghiên cứu, lý thuyết, phương pháp và tổng quan về người Ba Na ở huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu, xác lập khung lý thuyết, thao tác hóa các khái niệm công cụ và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Địa bàn Kông Chro: Là huyện vùng sâu phía đông nam tỉnh Gia Lai, địa hình đồi núi xen thung lũng dọc lưu vực sông Ba, có điều kiện sinh thái đặc thù cho kinh tế nông nghiệp nương rẫy truyền thống.
  • Cơ cấu dân cư và xã hội: Khái quát các phân nhóm địa phương của người Ba Na sinh sống trên địa bàn (Ba Na Tơ Lô, Ba Na Roh, Ba Na Kon Kơ Deh). Luận án phân tích thiết chế làng (play) truyền thống – đơn vị cư trú và tổ chức xã hội cơ bản, vận hành theo luật tục dưới sự điều hành của Hội đồng già làng và chủ làng.
  • Mối quan hệ giữa phương thức sản xuất và đời sống tinh thần: Nền kinh tế nương rẫy tự cấp tự túc, phụ thuộc chặt chẽ vào thời tiết và tự nhiên là mảnh đất dung dưỡng thế giới quan vạn vật hữu linh và hệ thống tín ngưỡng đa thần.

Chương 2: Hệ thống tín ngưỡng của người Ba Na ở huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai

Chương 2 là phần cốt lõi tái hiện bức tranh toàn cảnh về đời sống tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na tại địa bàn khảo sát:

  • Thế giới quan và quan niệm phân tầng vũ trụ:
    • Người Ba Na quan niệm vũ trụ đa tầng, phân chia giữa cõi trời, cõi đất (nơi người sống cư trú) và cõi âm (mang lung – thế giới của người chết nằm về phía Tây, phía mặt trời lặn).
    • Quan niệm về linh hồn và thể xác: Con người gồm thể xác (akâu) và linh hồn (pơhngol hoặc pơngol). Sức mạnh sống động của linh hồn được gọi là ai. Người giàu có, tài giỏi hay thủ lĩnh có nhiều linh hồn phụ (mơhol) bảo vệ. Khi chết đi, linh hồn rời thể xác chuyển sang trạng thái tồn tại khác ở mang lung.
    • Quan niệm về điềm báo và giấc mơ: Người Ba Na tin rằng giấc mơ (sơnang) phản ánh chân thực các trải nghiệm của linh hồn khi tạm thời rời thể xác; điềm báo từ tự nhiên (tiếng chim, hành vi thú vật, cây cối) chỉ dẫn các quyết định sinh hoạt và sản xuất.
    • Hệ thống kiêng kỵ: Quy định các điều cấm kỵ nghiêm ngặt trong sản xuất nương rẫy, sinh đẻ, cưới xin, làm nhà mới và tang lễ.
  • Hệ thống thần linh (Yang) và các biểu hiện đa thần:
    • Hệ thống Yang: Vô số các vị thần cai quản tự nhiên và đời sống: thần Trời (Yang Hơri), thần Đất (Yang Tơnêh), thần Sấm sét (Yang Grơm), thần Lúa (Yang Xri / Mẹ lúa), thần Núi (Yang Kông), thần Nước (Yang Đak), thần Rừng (Yang Bri).
    • Thực hành ma thuật và bói toán: Tồn tại các dạng ma thuật trừ tà, chữa bệnh, ma thuật nông nghiệp và săn bắn.
    • Vai trò của thầy cúng: Thầy cúng (pơ jâu) và thầy pháp (gru) đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa cộng đồng người sống với thế giới thần linh (yang) và ma đói/ma xấu (atâu), thực hiện các nghi thức cúng tế và giải tỏa khủng hoảng tâm lý cho dân làng.
    • Hệ thống nghi lễ: Phân loại chi tiết thành ba nhóm chính:
      1. Nghi lễ nông nghiệp: Khấn phạt rẫy, đốt rẫy, trỉa lúa, mừng lúa trổ bông, gặt lúa, rước hồn lúa về kho và lễ ăn cơm mới.
      2. Nghi lễ vòng đời người: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ trưởng thành, nghi lễ hôn nhân, lễ chữa bệnh, tang ma và lễ bỏ mả (bơthi).
      3. Nghi lễ cộng đồng: Lễ cúng bến nước, lễ dựng nhà rông mới, lễ đâm trâu tạ ơn thần linh và cầu an cho buôn làng.
Khía cạnh tín ngưỡng Khái niệm bản địa Nội dung biểu hiện và vai trò thực hành
Thần linh tối cao Yang Hệ thống đa thần cai quản vũ trụ (Thần Trời, Đất, Lúa, Sông, Rừng, Núi); tiếp nhận lễ vật hiến sinh
Thể xác & Linh hồn Akâu & Pơhngol Con người là sự kết hợp giữa thể xác và hồn; khi chết hồn về cõi mang lung
Năng lượng sống Ai & Mơhol Ai là sức lực sinh động của hồn; mơhol là các hồn phụ bảo hộ người có uy tín
Người thực hành Pơ jâu, Gru Thầy cúng/thầy pháp giữ vai trò giao tiếp với cõi thiêng, điều hành nghi lễ cúng tế
Thế giới người chết Mang lung Cõi âm phía Tây, nơi linh hồn trú ngụ sau lễ bỏ mả (bơthi) để tái sinh vòng đời
Nghi thức đỉnh cao Bơthi Lễ bỏ mả giải phóng hoàn toàn linh hồn người chết khỏi mối liên hệ với người sống

Chương 3: Giá trị, sự biến đổi và những vấn đề đặt ra với tín ngưỡng của người Ba Na huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai trong bối cảnh xã hội đương đại

Chương 3 luận giải các chuyển động thực tiễn của đời sống tâm linh từ sau năm 1975 đến nay:

  • Va chạm văn hóa và những biến đổi thực tế:
    • Sự du nhập của các tôn giáo mới: Sự lan rộng của đạo Tin Lành, Công giáo và sự xuất hiện của tà đạo "Hà Mòn" đã tạo ra sự phân hóa niềm tin trong cộng đồng làng, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các tín đồ tôn giáo mới với những người duy trì tín ngưỡng truyền thống.
    • Biến đổi trong nghi lễ: Nhiều nghi lễ nông nghiệp và vòng đời bị đơn giản hóa, rút ngắn quy trình hoặc bãi bỏ; vai trò của thầy cúng (pơ jâu) và già làng suy giảm; không gian thiêng của nhà rông và bến nước chịu tác động của quá trình định canh định cư, hiện đại hóa nông thôn.
  • Giá trị của tín ngưỡng trong đời sống tộc người:
    • Giá trị cố kết cộng đồng: Tín ngưỡng là sợi dây liên kết các thành viên trong làng, củng cố tính đoàn kết tương trợ qua các sinh hoạt lễ hội tập thể.
    • Giá trị điều hòa quan hệ người – tự nhiên: Quan niệm vạn vật hữu linh nhắc nhở thái độ ứng xử tôn trọng môi trường sinh thái, cấm kỵ chặt phá rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước và đất đai.
    • Giá trị lưu giữ tri thức và đạo đức: Chứa đựng kho tàng tri thức bản địa về thời tiết, mùa vụ, y học dân gian và chuẩn mực đạo đức cộng đồng.
  • Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý và bảo tồn:
    • Xử lý mối quan hệ biện chứng giữa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
    • Vấn đề bảo tồn có chọn lọc: Kế thừa các giá trị cố kết cộng đồng, văn hóa lễ hội lành mạnh; từng bước vận động đồng bào từ bỏ các tập tục tốn kém, lạc hậu (như giết mổ gia súc tràn lan trong tang ma, tệ nghi kỵ "ma lai - thuốc độc") mà không làm tổn thương tâm lý tộc người.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Bổ sung và cụ thể hóa các khái niệm lý thuyết về tín ngưỡng truyền thống của các cư dân nông nghiệp tiền công nghiệp, đặc biệt là nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer tại vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.
  • Khẳng định tính tương đồng giữa khái niệm "tín ngưỡng bản địa" và "tôn giáo", luận giải cấu trúc tín ngưỡng như một chỉnh thể văn hóa sống động bao gồm nhận thức, niềm tin, biểu tượng và hệ thống thực hành nghi lễ gắn chặt với tổ chức buôn làng.
  • Làm rõ mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa tín ngưỡng với phương thức canh tác nương rẫy, cấu trúc xã hội mẫu hệ/song hệ và môi trường sinh thái rừng Tây Nguyên.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học mới, chuẩn xác và có hệ thống về diện mạo tín ngưỡng của các phân nhóm Ba Na (Tơ Lô, Roh, Kon Kơ Deh) tại địa bàn huyện Kông Chro – một địa bàn ít được khảo cứu so với vùng An Khê hay Kon Tum.
  • Nhận diện đúng thực trạng biến đổi tín ngưỡng sau năm 1975, phân tích nguyên nhân của sự thâm nhập tôn giáo mới và hiện tượng lệch chuẩn tâm linh (hiện tượng Hà Mòn).
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo và cơ quan quản lý văn hóa cấp tỉnh Gia Lai cũng như khu vực Tây Nguyên trong việc xây dựng giải pháp phát triển kinh tế – xã hội bền vững gắn với bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Hoàn thiện chính sách tôn giáo – tín ngưỡng: Tôn trọng nhu cầu tâm linh chính đáng của đồng bào Ba Na; phân biệt rõ tín ngưỡng truyền thống lành mạnh với các hiện tượng lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định chính trị.
  2. Bảo tồn không gian văn hóa buôn làng: Gắn việc bảo tồn lễ hội truyền thống, nhà rông, cồng chiêng với việc duy trì cảnh quan rừng và không gian cư trú cộng đồng.
  3. Nâng cao năng lực quản lý văn hóa cơ sở: Phát huy vai trò tự quản của Hội đồng già làng, người có uy tín và các nghệ nhân dân gian; đẩy mạnh tuyên truyền bài trừ hủ tục thông qua quy ước, hương ước làng thay vì áp đặt hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn lực và dung lượng luận án, việc khảo sát thực địa chủ yếu tập trung tại các xã trọng điểm của huyện Kông Chro; các so sánh với các nhóm Ba Na ở Bình Định, Phú Yên mới dừng ở mức liên hệ tài liệu thứ cấp, chưa tiến hành điền dã trực tiếp trên diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điền dã đối sánh toàn diện giữa các phân nhóm Ba Na ngữ hệ Môn – Khmer ở Tây Nguyên với các nhóm Ba Na vùng duyên hải miền Trung.
    • Đi sâu nghiên cứu tác động dài hạn của quá trình chuyển đổi sinh kế (từ nương rẫy truyền thống sang trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, mía) đối với sự biến đổi cấu trúc tâm linh và nghi lễ vòng đời của người Ba Na.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Dân tộc học/Nhân học văn hóa, Tôn giáo học khi nghiên cứu về văn hóa các tộc người thiểu số Tây Nguyên và lý thuyết nhân học tôn giáo.
  • Giảng viên đại học và các nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về hệ thống thuật ngữ bản địa (Yang, Akâu, Pơhngol, Ai, Mơhol, Pơ jâu, Gru, Bơthi) và cấu trúc các lễ thức nông nghiệp.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, công tác dân tộc và hoạch định chính sách: Tham khảo Chương 3 để nắm bắt thực trạng biến đổi tâm lý xã hội, khủng hoảng niềm tin và các giải pháp bảo tồn văn hóa gắn với an ninh trật tự tại vùng cao nguyên miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích thế nào về mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn theo quan niệm của người Ba Na?

Theo luận án, người Ba Na quan niệm con người là sự kết hợp giữa thể xác (akâu) và linh hồn (pơhngol hoặc pơngol). Sức mạnh sống động của linh hồn là ai. Người tài giỏi, giàu có hay thủ lĩnh làng ngoài linh hồn chính còn có nhiều linh hồn phụ (mơhol) che chở. Khi con người ngủ, linh hồn có thể tạm rời thể xác tạo nên giấc mơ; khi chết, thể xác tiêu biến nhưng linh hồn vẫn tồn tại và sau lễ bỏ mả (bơthi) sẽ về định cư vĩnh viễn tại cõi âm (mang lung).

2. Thầy cúng (pơ jâu) và thầy pháp (gru) có vai trò gì trong cấu trúc xã hội Ba Na truyền thống?

Thầy cúng (pơ jâu) và thầy pháp (gru) là những nhân vật giữ vai trò trung gian tâm linh giữa cộng đồng người sống với thế giới siêu nhiên (yang và atâu). Họ có khả năng hiểu biết luật tục, thuộc các bài cúng, thực hiện các kỹ thuật bói toán, giải đoán điềm báo qua giấc mơ, thực hành ma thuật chữa bệnh và điều hành các nghi lễ hiến tế nhằm tái lập trạng thái cân bằng tâm lý và trật tự cho dân làng.

3. Ý nghĩa văn hóa – sinh thái của tín ngưỡng đa thần đối với người Ba Na ở Kông Chro là gì?

Tín ngưỡng đa thần với hệ thống các Yang ngự trị khắp tự nhiên (thần Trời, Đất, Sấm, Núi, Rừng, Nước, Cây lúa) phản ánh sự phụ thuộc mật thiết của phương thức canh tác nương rẫy vào thiên nhiên. Niềm tin này tạo ra thái độ ứng xử tôn trọng tự nhiên, quy định các điều kiêng cữ bảo vệ rừng thiêng, nguồn nước và sản vật tự nhiên, đóng vai trò như một bộ "luật sinh thái" bản địa duy trì sự hài hòa giữa con người và môi trường.

4. Tín ngưỡng người Ba Na ở Kông Chro đã chịu những biến đổi căn bản nào sau năm 1975?

Sau năm 1975, tín ngưỡng Ba Na tại Kông Chro biến đổi qua: (1) Sự du nhập và cạnh tranh của các tôn giáo mới (Tin Lành, Công giáo và tà đạo Hà Mòn) làm rạn nứt cấu trúc gắn kết cộng đồng truyền thống; (2) Sự phai nhạt, giản lược quy mô của các nghi lễ nông nghiệp và nghi lễ vòng đời; (3) Sự suy giảm vị thế của già làng và thầy cúng trước tác động của đời sống kinh tế thị trường và quá trình giao lưu văn hóa hiện đại.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Tín ngưỡng của người Ba Na (huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai) của tác giả Trung Thị Thu Thủy là công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện đời sống tâm linh của một tộc người tiêu biểu thuộc ngữ hệ Môn – Khmer tại Tây Nguyên. Bằng phương pháp điền dã dân tộc học thực chứng kết hợp khung lý thuyết nhân học tôn giáo, luận án đã làm sáng rõ cấu trúc thế giới quan, hệ thống đa thần, ma thuật và các chu kỳ nghi lễ nông nghiệp, vòng đời người Ba Na. Đồng thời, công trình phân tích sâu sắc các biến động văn hóa – xã hội đương đại từ sau năm 1975, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác quản lý nhà nước về văn hóa, tôn giáo và phát triển bền vững tại địa bàn Tây Nguyên.