Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Ở chương này, ngoài việc giới thiệu khái quát về sự hình thành và phát triển của người Chăm ở tỉnh An Giang, luận văn trình bày hiểu biết về các khái niệm liên quan văn hóa và văn hóa sinh kế, trình bày hiểu biết về sinh kế, văn hóa sinh kế của các nhà khoa học, của các tác giả đã công bố trước, làm cơ sở cho các hiểu biết văn hóa sinh kế giúp cho phân tích làm rõ những vấn đề nghiên cứu, trình bày làm rõ nội dung nghiên cứu của luận văn đề tài “Văn hóa sinh kế của người Chăm ở An Giang”. Chương 2: Văn hóa tổ chức và ứng xử trong sinh kế của người Chăm ở An Giang Tác giả tập trung trình bày, lý giải về những hình thức tổ chức và ứng xử trong sinh kế của người Chăm An Giang. Trên cơ sở đó lý giải những tác nhân ảnh hưởng đến cách tổ chức và ứng xử của họ, đúc kết được những đặc trưng riêng trong văn hóa sinh kế của người Chăm ở An Giang. Chương 3: Văn hóa nhận thức trong sinh kế của người Chăm ở An Giang Trong chương này, tác giả trình bày những nhận thức của người Chăm An 10 Giang về nguồn lực và xu hướng biến đổi trong sinh kế.
Đối với các nguồn lực sinh kế, tác giả phân tích theo khung khái niệm sinh kế. Đối với xu hướng biến đổi, tác giả nhận thấy có hai xu hướng chính ở người Chăm An Giang là hiện đại hóa và chuyên môn hóa. 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận và lý thuyết liên quan nghiên cứu văn hóa sinh kế 1.
Một số khái niệm - Khái niệm về văn hóa: Văn hóa có nhiều cách hiểu, đây là khái niệm mang nội hàm rộng. Khái niệm văn hóa trên thế giới khá đa dạng, hiện nay đã có hơn 500 định nghĩa khác nhau. Khái niệm Văn hóa đầu tiên được được nhà nghiên cứu nhân học E. Tylor thiết lập vào năm 1871 trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy như sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (E.
Đây là khái niệm mang nhiều giá trị khoa học, bước đầu định hình nền tảng về văn hóa. Tylor xem văn hóa và văn minh là một, chưa phân tách rõ ràng. Boas định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” (F.Boas, Primitive Minds (Trí óc của người Nguyên Thủy), Ngô Phương Lan dịch, 1921, tr.149) Trong cách nhìn nhận này, F.Boas nhấn mạnh về mối quan hệ, sự tương tác giữa các chủ thể để tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần cho một cộng đồng. UNESCO cũng có định nghĩa về văn hóa, đây là định nghĩa khá phổ biến, được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng để triển khai vấn đề văn hóa: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và 12 những tín ngưỡng…” (UNESCO, 2009) Định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1996): “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của minh” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định văn hóa là những sáng tạo và phát minh của con người, nguồn gốc của văn hóa là lẽ sinh tồn của con người.
Văn hóa vừa là mục đích và vừa động lực của cuộc sống, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt (từ ăn mặc ở, phương thức sử dụng, ứng xử, giao tiếp…). Trên đây là những định nghĩa, quan điểm về văn hóa phù hợp với đối tượng và hướng nghiên cứu của đề tài luận văn, trong đó quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm về văn hóa được học viên sử dụng làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa nói chung và văn hóa sinh kế nói riêng. - Về văn hóa tổ chức; văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử (với môi trường): Đây là tính hệ thống, là đặc trưng đầu tiên và quan trọng nhất của văn hóa, có nhiều cách nhận thức về cấu trúc văn hóa như: cấu trúc hai thành phần (kinh tế - trí thức, văn hóa vật thể – phi vật thể,…); cấu trúc ba thành phần (vật chất – 13 tinh thần – nghệ thuật,…).
Với đề tài nghiên cứu của luận văn này, học viên sử dụng cấu trúc Tam phân văn hóa nhận thức – tổ chức - ứng xử theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm phân tích trong Những vấn đề văn hóa lý luận và ứng dụng qua đó văn hóa nhận thức gồm các giá trị mà nếu xét về đối tượng nhận thức thì có thể phân chia tiếp thành nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người. Còn xét về mức độ nhận thức thì có thể chia thành nhận thức cảm tính (như tín ngưỡng, tôn giáo, tri thức dân gian, tri thức đạo học) và nhận thức lý tính (như khoa học kỹ thuật truyền thống). Văn hóa tổ chức nếu xét về đối tượng tổ chức thì có thể chia thành tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân. Còn về Văn hóa ứng xử với môi trƣờng nếu xét về đối tượng ứng xử thì có thể chia thành ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội, còn nếu xét về cách thức ứng xử thì có thể chia thành văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên và văn hóa tận dụng môi trường xã hội (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.
Vận dụng các quan điểm trên về cấu trúc văn hóa của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, học viên áp dụng vào luận văn để phân tích làm rõ những đặc điểm sinh kế và sự biến đổi của các hoạt động sinh kế phổ biến của người Chăm qua quá trình tiếp xúc và ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội. - Tộc người và văn hóa tộc người: Trong lịch sử phát triển của nhân loại, mối dây liên hệ giữa con người với nhau là vô cùng phức tạp. Con người chịu sự chi phối của nhiều cộng đồng người khác nhau như: cộng đồng chính trị - xã hội, cộng đồng kinh tế, tôn giáo…Các cộng đồng này luôn có những hướng tích cực lẫn tiêu cực đan xen nhau, vừa thống nhất cũng vừa mâu thuẫn với nhau tác động đến con người. Con người đóng vai trò như là chủ thể sáng tạo của các cộng đồng, bên cạnh đó cũng chịu sự tác động của xã hội đến hành vi của con người.
Theo Chesko, với mỗi hoàn cảnh và tính chất xã hội nhất định sẽ hướng các cá nhân trong xã hội đấy có những hành vi phù hợp. Với tính chất xã hội khác nhau có thể tính đồng nhất nhóm phái sẽ được đề cao hơn tính cá nhân, đồng nghĩa với việc mối quan hệ, cấu trúc nhóm phái – cá nhân sẽ càng phức tạp nếu xã hội có tính phức tạp (Nghiêm Văn Thái, 14 1998, trang 21). Điều quan trọng là trong những cộng đồng đó, giá trị cốt lõi là con người thuộc về cộng đồng nào? Cộng đồng đó chính là nơi sinh ra và lớn lên, là quê hương nguồn cội liên kết không chỉ giữa những con người đang sống mà còn là những người đã khuất, gắn với quá trình lịch sử của ông cha đã dựng nên. Trên thế giới, khái niệm “tộc người” có nhiều định nghĩa khác nhau, chưa thống nhất về các đặc trưng, với hai trường phái giữa các nhà nhân học Âu – Mỹ và các nhà dân tộc học Xô Viết.
Theo trường phái dân tộc học Xô Viết, có hai nhà khao học Ju. Krjukov cho rằng tộc người là tổng hợp những người có cùng nguồn gốc lịch sử, văn hóa, tâm lý trên một lãnh thổ nhất định, và có ý thức tự giác tộc người, được gọi chung với nhau là tộc danh (Nghiêm Văn Thái, 1998, tr. Tại Việt Nam, một số nhận định về “tộc người”, như theo Đặng Nghiêm Vạn yếu tố quan trọng để xác định tộc người là ngôn ngữ bên cạnh các yếu tố khác, ông cho rằng: “tiếng nói từ tuổi thơ đánh thức cả một quá khứ dân tộc trong lời ru trẻ thơ, là tiếng nói liêng thiêng của một chiến binh ngã trên chiến trường trước khi rời đồng đội. Ngôn ngữ là một ngọn cờ đấu tranh để bảo vệ sự sống còn của một tộc người, đối diện với chính sách đồng hóa của người cầm quyền” (Đặng Nghiêm Vạn, 2009, trang 34).
Tập thể tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp trong Dân tộc học đại cương cho rằng những yếu tố hình thành nên tộc người bao gồm tên gọi, ngôn ngữ, các hoạt động đời sống, lãnh thổ và khu vực cư trú. Các nhà khoa học này cũng nhận định rằng ý thức tộc người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và duy trì của bất cứ tộc người nào (Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ & Nguyện Văn Tiệp, 2000).