Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN CA MÔNG VÀ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA TRONG VĂN HỌC 1. Vài nét khái quát về dân ca Mông ở Hà Giang Cao nguyên đá Hà Giang là vùng đất cư trú của nhiều tộc người anh em các dân tộc thiểu số như Mông, Tày, Lô Lô, Dao, Giấy, Nùng, Pu Péo. Tuy nhiên, tộc người chiếm ưu thế hơn cả là dân tộc Mông, những cư dân để lại dấu ấn đậm nét nhất trong đời sống vật chất và tinh thần tại vùng đất này. Vấn đề tộc danh của đồng bào Mông đã được đặt ra từ trước những năm 1945.
Tuy nhiên cách gọi tên và phiên âm trong Tiếng Việt hơn nửa thế kỉ qua của cộng đồng dân tộc này không có sự thống nhất. Trước đây người Hán gọi người Mông là Miêu Tử hay Miêu Tộc, rồi sau đó Miêu trở thành tên tộc người. Có thời gian, các cộng đồng ở phía Bắc Việt Nam gọi họ là người Mèo. Một số văn bản và công trình nghiên cứu khác về tộc người sử dụng cách viết H’Mông.
Tại Hội nghị cốt cán năm 1978 đã chính thức gọi tên dân tộc này là dân tộc Mông. Hội Đồng Dân tộc của Quốc Hội (khoá X) đã có công văn số: 09-CV/HĐDT ngày 04/12/2001 về việc đề nghị đọc đúng tên và khái niệm về dân tộc, công văn nêu rõ: “Tên gọi dân tộc Mông, nếu viết bằng chữ phổ thông là ngôn ngữ chính thức của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì viết là dân tộc Mông” [5]. Với văn bản mang tính pháp quy đã ban hành, tên gọi dân tộc Mông được coi là tộc danh chính thức. Tuy nhiên, chúng tôi xin giữ nguyên cách viết về tên gọi dân tộc Mông trong các công trình trước đó của các nhà nghiên cứu khi trích dẫn nguồn tư liệu trong đề tài.
Dân ca là những sáng tác có từ lâu đời. Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa về dân ca như sau:“Một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong 10 diễn xướng” [14;108]. Dân ca nói chung là những bài hát sinh ra từ trong lòng nhân dân và có đời sống ngay giữa cộng đồng nhân dân đó. Với đặc trưng như vậy, dân ca gắn liền với mọi sinh hoạt của đời sống và thể hiện nếp cảm, nếp nghĩ của cộng đồng sáng tạo ra nó.
Hầu hết các dân tộc và các địa phương đều có những làn điệu dân ca cho riêng mình. Sự xuất hiện của những tác phẩm dân ca của các dân tộc ít nhiều có sự khác nhau. Tuy nhiên tựu chung lại, mỗi bài dân ca thường có nguồn gốc từ những điều kiện chủ yếu như phong tục sinh hoạt, nghi lễ, điều kiện tự nhiên xã hội, hoạt động vui chơi, lao động sản xuất. Mỗi dân tộc cư trú trên những vùng miền, những khu vực địa lý khác nhau sẽ tạo dựng những phong tục, lối sống, phương thức lao động để tồn tại, ngôn ngữ giao tiếp cho dân tộc mình.
Cũng như vậy, quá trình ra đời các làn điệu dân ca mang dấu ấn thời gian, không gian, phong tục, ngữ âm của từng dân tộc. Dân tộc Mông sở hữu một kho tàng văn học nghệ thuật dân gian tương đối phong phú bao gồm: truyện cổ tích, truyện thơ, tục ngữ, câu đố, dân ca, thần thoại. Các tác phẩm văn học dân gian ấy phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và cuộc sống lao động, đấu tranh của người Mông. Nhiều tác phẩm văn học dân gian Mông truyền từ đời này sang đời khác thực sự là những tác phẩm văn học có giá trị cao.
Nền văn học dân gian của dân tộc Mông phản ánh chính cuộc sống của họ và phản ánh năng lực của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt. Nếu như truyện dân gian Mông tập trung đề cập đến mặt trái xã hội, bênh vực lẽ phải, tràn đầy tính giáo dục và đạo đức nhân văn cao cả. Bộ phận tục ngữ và câu đố với những nội dung phong phú thể hiện mối quan hệ xã hội giữa người với người và giữa con người với thiên nhiên thì các tác phẩm dân ca Mông có sức phản ánh mọi mặt của đời sống người Mông. Dân ca Mông là một trong những di sản tinh thần độc đáo của nền văn học dân tộc, là bộ phận tiêu biểu trong văn hóa dân tộc Mông chứa đựng nhiều giá trị 11 nghệ thuật đặc sắc.
Đặc biệt phần dân ca về nghi lễ phong tục phản ánh những quan niệm về tín ngưỡng có chiều sâu nhân bản của đồng bào. Dân ca Mông có thể coi là người anh cả trong không gian văn học dân tộc Mông bởi sự phong phú về số lượng tác phẩm cũng như giá trị biểu đạt. Khi điều tra về vị trí của dân ca Mông so với các thể loại văn học dân gian khác của người Mông, kết quả khảo sát tại Hà Giang cho thấy hơn 70% người dân lựa chọn dân ca. Điều này khẳng định trong tâm thức của người dân nơi đây, nhắc đến dân tộc Mông thì dân ca luôn là lựa chọn đầu tiên trong không gian văn học của tộc người này.
Dân ca còn là sự tích hợp của nhiều thể loại văn học dân gian khác như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, tục ngữ, câu đố… Không khó để tìm thấy ở dân ca Mông sự lồng ghép trong lời ca những yếu tố văn học kể trên. Ngược lại, muốn hiểu tường tận dân ca Mông cũng phải cần đến sự trợ lực của các thể loại văn học khác. Rất nhiều nhà nghiên cứu như Chế Lan Viên, Nguyễn Mạnh Tiến, Doãn Thanh, Trần Hữu Sơn, Hồng Thao. đã nhận định dân ca là thể loại nền tảng mà những mảnh vỡ từ nó có thể cấu thành nên các thể loại văn học dân gian khác như truyện thơ, thần thoại.
Tất cả những điều này khẳng định một lần nữa vị trí của dân ca Mông trong không gian văn học của người Mông. Theo các tài liệu lịch sử, tài liệu dân tộc học, người Mông đến Việt Nam vào khoảng cách đây 300 – 500 năm. Khi mới đặt những bước chân đầu tiên vào Việt Nam, họ mang theo vốn dân ca Mông từ Trung Quốc. Phải đến một thời gian sau đó họ mới bắt đầu sáng tác những bài dân ca mới.
Các bài dân ca Mông lúc này phản ánh một bộ mặt văn hóa mới được người Mông kiến tạo trên mảnh đất Việt Nam. Đó là quá trình những sáng tác dân ca được phát triển thành từ những chất liệu đầy màu sắc của cuộc sống. Theo các nhà nghiên cứu, dân ca Mông do các nghệ nhân sáng tác tại miền núi phía Bắc nước ta dần dần qua quá trình truyền miệng, qua thời gian, qua sự sáng tạo 12 của nhiều người mới thành bài ca hoàn chỉnh. Những người Mông đầu tiên đến miền đất mới đã sáng tác vài điệu dân ca mô tả cuộc sống mới, kể chuyện phong cảnh thiên nhiên.
Những bài dân ca mới được bồi đắp dần qua dấu ấn tinh thần người Mông, đi từ ý tưởng chưa hoàn chỉnh thành những bài hát được lưu truyền trong dân gian. Dân ca Mông cứ như vậy xuất hiện trên miền đất mới ở phía Bắc Tổ quốc Việt Nam. Từ những năm 60 của thế kỉ XX, dân ca Mông được sưu tầm và truyền bá với vai trò là các tác phẩm văn học qua việc xuất bản và giới thiệu trong các tuyển tập sách chung về văn học dân gian và xuất bản tuyển tập dân ca Mông nói riêng. Tập Dân ca Mèo [58] của Doãn Thanh là công trình sưu tầm tập hợp được số lượng các bài dân ca được coi là hoàn chỉnh nhất.
Khi cuốn sách được tái bản năm 1984 với tên gọi Dân ca H’mông [59] đã được thêm hai bài trong đó có bài Tiếng hát mồ côi được Lê Trung Vũ sưu tầm ở Mèo Vạc – Hà Giang. Như vậy, dân ca Mông Hà Giang đã bắt đầu được sưu tầm và giới thiêu từ thời điểm đó. Tiếp nối sau đó từ năm 1995 đến năm 2003, nhà thơ Hùng Đình Quý đã đi khắp những bản làn Mông ở Hà Giang và ghi lại những bài dân ca từ trí nhớ các nghệ nhân còn lưu giữ được bằng cả tiếng Mông và tiếng Việt. Nhà thơ đã tập hợp những bài dân ca sưu tầm được và công bố trong tuyển tập ba tập Dân ca Mông Hà Giang [45-47] do Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Giang xuất bản từ năm 1995 - 2003.
Đây là công trình khẳng định giá trị dân ca Mông trong kho tàng văn học dân gian Mông Hà Giang từ số lượng tác phẩm cho đến nội dung và nghệ thuật. Nếu như với các dân tộc vùng đất Tây Nguyên, sử thi luôn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong kho tàng văn hóa thì với dân tộc Mông vị trí đó thuộc về dân ca. Với lịch sử buộc phải di chuyển triền miên thì hình thức truyền khẩu và lưu giữ trong trí nhớ đã giúp dân ca trở thành bộ phận giữ được số lượng phong phú và toàn diện nhất về mọi mặt. Số lượng dân ca 13 Mông được sưu tầm tuy chưa thể nói là đã đầy đủ nhưng dựa trên những tuyển tập mà các nhà nghiên cứu sưu tầm được, chúng ta có cơ sở để nhận định về một nền văn hóa Mông được hình thành và liên tục bồi đắp theo những bước chân của người Mông.
Dân ca được lựa chọn bởi nó gắn liền với mọi hoạt động của người Mông. Từ ngày thường cho đến dịp lễ hội, từ khi người Mông sinh ra cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, từ những lần làm quen hò hẹn cho đến ngày đôi nam nữ về một nhà, tất cả đều có sự hiện diện của dân ca. Dân ca còn giúp người Mông nói lên bao tiếng lòng mà họ không biết tâm sự cùng ai. Tiếng hát tình yêu, tiếng hát cưới xin, tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu, tiếng hát đám ma – Tang ca chính là những minh chứng rõ nhất cho điều này.
Chính điều đó khiến dân ca trở thành thể loại nổi trội nhất trong kho tàng văn học dân gian Mông và rộng hơn là cả kho tàng văn hóa Mông. Quá trình khám phá dân ca Mông là quá trình tiếp xúc với chính văn hóa Mông qua dấu ấn tinh thần của người Mông. Những câu từ tưởng như hình thành từ vô thức lại phản ánh rất đậm nét những dấu vết hằn lại từ bao thế hệ để rồi cứ thế xếp chồng lên cho bề dày văn hóa dân tộc. Người Mông là tộc người yêu ca hát, họ bỏ vào trong lời hát của mình mọi gia vị cuộc đời mà họ nếm trải.