CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN LÀNG VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM 1. Khái quát chung về dân tộc Xơ Đăng vùng Tây Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên Tây Nguyên là khu vực rộng lớn, cùng với vùng Đông Bắc Campuchia, vùng trung Lào và phần miền núi các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng hợp thành một địa bàn thống nhất về địa lý tự nhiên [24]. Phân định địa giới hành chính Việt Nam hiện nay, Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông, Kom Tum và Gia Lai.
Phân vùng địa lý, Trường Sơn Bắc chạy từ thượng nguồn Sông Cả đến phía bắc thung lũng Sông Bung, còn Trường Sơn Nam bắt đầu từ nam thung lũng Sông Bung đến tận miền Đông Nam Bộ, trong khoảng toạ độ từ 110 đến 15030' vĩ Bắc. Hai đoạn của gờ núi Trường Sơn Nam nối lại với nhau thành một vòng cung lồi ra phía đông và làm cho bờ biển nước ta có dạng chữ S. Nằm lọt vào vòng cung, đường viền chữ S đó.1: Bản đồ hành chính Tây Nguyên.[72] + Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam. + Phía Nam giáp các tỉnh: Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai.
11 + Phía Đông giáp các tỉnh: Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi. + Phía Tây giáp tỉnh Bình Dương và hai nước Lào, Campuchia. Tổng diện tích tự nhiên là 54.474 km2 chiếm 16,8% diện tích tự nhiên cả nước, được mệnh danh là “Mái nhà của bán đảo Đông Dương” bởi đây là vùng có địa hình cao, gồm các cao nguyên xếp tầng (600 - 800m so với mực nước biển). Địa hình dốc, từ đông sang tây thoải dần.
Vùng đất có nhiều sông chảy về các vùng lân cận, là nơi bắt nguồn của các con sông lớn như Đồng Nai, sông Ba, sông Xêxan… Địa hình khu vực Tây Nguyên là một tập hợp các cao nguyên tiếp giáp với các dãy núi cao (Trường Sơn Nam) về phía đông, bao gồm cao nguyên Kon Tum ở độ cao khoảng 500 m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, cao nguyên Plâyku ở độ cao khoảng 800 m, cao nguyên M'Drăk và cao nguyên Buôn Ma Thuột ở độ cao chừng 500 m, cao nguyên Mơ Nông khoảng 800 - 1000 m, cao nguyên Lâm Viên và cao nguyên Di Linh khoảng 900 - 1500 m [70, 73]. Tài nguyên Đặc điểm nổi bật thiên nhiên Đất, rừng Đất bazan: 1,36 triệu ha (66% đất Bazan cả nước), thích hợp với trồng cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, bông, chè, dâu tằm. Rừng tự nhiên: gần 3 triệu ha (chiếm 29,2% diện tích rừng tự nhiên cả nước). Khí hậu, nước Trên nền nhiệt đới cận xích đạo, khí hậu Tây Nguyên thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp.
Nguồn nước và tiềm năng thủy điện lớn (chiếm 21% thủy năng thủy điện cả nước). Khoáng sản Bô xít có trữ lượng vào loại lớn, hơn 3 tỷ tấn.1: Bảng tài nguyên thiên nhiên nổi bật ở Tây Nguyên (Nguồn: Sở TNMT Kon Tum) Về khí hậu, có thể chia Tây Nguyên thành ba tiểu vùng khí hậu, gồm: Nam Tây Nguyên (tỉnh Lâm Đồng), Trung Tây Nguyên (các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Bắc Tây Nguyên (gồm các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh). Khí hậu Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, với nhiệt độ trung 12 bình hàng năm khoảng 20°C. Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cao đáng kể, khoảng 5,5°C.
Vùng này có hai mùa rõ rệt: mùa nóng khô, thiếu nước trầm trọng và mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85-90% tổng lượng mưa cả năm. Với đặc điểm và khí hậu như trên, người dân Tây Nguyên cũng phải đối mặt với nhiều bất lợi vào mùa khô gay gắt, nước thiếu hụt nghiêm trọng. Rừng đang ngày càng giảm diện tích do các hoạt động khai phá của người dân: Trồng cà phê hay hiện tượng cháy rừng (xảy ra nhiều vào mùa khô). Đất thoái hóa, diện tích đồi trọc tăng là hậu quả ta thấy được.
Lịch sử phát triển vùng Tây Nguyên, lịch sử phát triển dân tộc Xơ Đăng. Lịch sử phát triển vùng Tây Nguyên Hình 1.2: Các vùng địa hình Tây Nguyên - Quá trình hình và Trường Sơn Nam [70] thành: Trong kỷ Đệ Tứ (kỷ Nhân sinh) từ 2-1,5 triệu năm trước, quá trình kiến tạo địa chất ở Tây Nguyên đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Trong thời kỳ này, dung nham basalte đã trào ra qua các khe nứt và phủ lên khắp các đồng bằng bị xói mòn, làm thay đổi địa hình thấp nhất tại thời điểm đó. 13 Tây Nguyên nằm trong vùng đai núi lửa của lục địa Châu Á - Thái Bình Dương.
Trong quá trình phun trào, hoạt động nâng lên tiếp tục xảy ra dọc theo các nếp oằn và đứt gãy đã tồn tại và hình thành các cao nguyên Pleiku, Buôn Ma Thuột, M'drak, Đăk Nông. Một số miệng núi lửa cũ đã bị vùi lấp hoặc thu nhỏ, tạo thành các hồ nước như Biển Hồ (Gia Lai), trong khi miệng núi lửa ở vị trí cao như Hàm Rồng (Gia Lai) vẫn tồn tại cho đến ngày nay [71]. Trong cuốn “Khảo cổ học - Tiền sử Tây Nguyên” của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Sử có ghi chép về nguồn gốc của vùng đất này như sau: Lịch sử một vùng đất được đánh dấu bởi sự xuất hiện con người cư trú và khai phá. Theo quan điểm này, lịch sử của Tây Nguyên bắt đầu từ thời kỳ đá cổ, ít nhất là khoảng 30.000 năm trước đây.
Tuy nhiên, nếu xem xét lịch sử dưới góc độ sự xuất hiện của các quốc gia và văn hóa văn bản, thì Tây Nguyên mới xuất hiện khá gần đây. Tính chung, có thể nhận thấy rằng, trong suốt thiên niên kỷ I sau Công nguyên, Tây Nguyên là khu vực tranh chấp giữa các quốc gia cổ đại. Năm 1149, vua Champa đuổi đánh người Khơme và mở rộng lãnh thổ vào các vùng lãnh thổ bộ lạc ở Tây Nguyên, kiểm soát khu vực này hơn 300 năm [60]. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Tây Nguyên lúc đó được gọi là “Nước Nam Bàn” có khoảng 50 thôn nằm ở phía tây Phú Yên, có hai vua gọi là Hỏa Xá và Thủy Xá ngự trị.
Năm 1540, vua Lê Thánh Tông phong vương cho Thủy Xá và Hỏa Xá. Ông đồng thời cử Bùi Tá Hán - trấn thủ Quảng Nam kết hợp tổ chức di dân, lập ấp, xây dựng dinh điền, chỉnh đốn việc giao thương buôn bán giữa người Kinh và người Thượng [16]. Người Pháp đã dành sự chú ý đặc biệt đến Tây Nguyên, trước khi sang xâm lược nước ta. Cuốn sách Địa chí Gia Lai (1999) ghi lại: Vào năm 1775, người Pháp đã sử dụng những đoàn truyền đạo đến vùng đất này để xây dựng các cơ sở tôn giáo chính trị.
Sau khi chiếm Tây Nguyên vào năm 1898, thực dân Pháp đã lập ra chế độ trực trị, đặt Tòa Đại lý hành chính tại Kon Tum và ủy quyền cho linh mục 14 Viallenton làm đại lý [33]. Nhà nghiên cứu Lưu Hùng viết trong cuốn “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” (1994) cho rằng thuở sơ khai tộc người Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ Nam Á (Môn Kheme) và Nam đảo (MãLaio-Poly nêdi) [24]. Các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á hình thành hai khối tách biệt nhau. Nằm xen giữa là các dân tộc theo ngữ hệ Nam đảo.
Đối chiếu với từng tỉnh theo phân vùng lãnh thổ hiện nay, thì ở Gia Lai người Bana thuộc nhóm Nam Á lại ở phía bắc tỉnh. Người Êđê thuộc nhóm Nam đảo ở phía bắc tỉnh Đắk Lắk cùng nhóm với người Gia Rai. Người Mnông lại ở vào phía nam của tỉnh. Có 5 dân tộc có thể xếp vào nhóm ngôn ngữ Malayô ư Pôlinêdi thuộc ngữ hệ Nam Đảo là: Gia Rai, Êđê, Chu ru, Raglai và Chăm.
Sự chen vào giữa những dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á của các tộc thuộc ngữ hệ Nam đảo phản ánh một thực trạng hoà hợp giữa các dân tộc thuộc hai ngữ hệ lớn này. Đó chính là cơ sở của triết lý tôn trọng tính đa dạng của bản sắc văn hoá các dân tộc [45]. Từ sau 1975, xen vào hai khối ngữ hệ lớn này còn có những dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ Mông Dao và nhóm ngôn ngữ Việt Mường. Đó là các dân tộc Tày, Thái, Nùng, Dao, Mường [45].
Chính các cơ sở của lý luận này đã củng cố sự hoà hợp giữa các dân tộc mới di cư đến và các dân tộc bản địa. Về thiết chế xã hội, từ cổ truyền đã bao gồm thân tộc, thích tộc, dòng họ, gia đình, buôn, plei, già làng, các giới… - Dân cư, các tộc người vùng Tây Nguyên Dân số ít và phân bố không đều. Mật độ dân số thấp. Vùng đất Tây Nguyên đa dạng về dân tộc: 26,58% là dân tộc thiểu số.
Vùng Tây Nguyên vẫn là nơi khó khăn của đất nước, những vấn đề tồn đọng về dân cư, việc làm, văn hóa cần được cải thiện hơn nữa. Theo một số tài liệu về dân tộc học cho thấy, một điều gây ngạc nhiên là số 15 lượng dân tộc ở Tây Nguyên vẫn còn tranh cãi. Có thể do quan điểm phân chia các tộc người của các nhà nghiên cứu khác nhau, nhiều dân tộc lại chia thành những nhóm nhỏ hơn nên đã dẫn tới sự không thống nhất này. Sự đa dạng của vùng đất Tây Nguyên vẫn còn nhiều bí ẩn để được khám phá.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.000 người, gồm 18 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là 853.820 người, chiếm 69,7% dân số. Năm 1993, dân số toàn vùng tăng lên gấp đôi (2.854 người), với 38 dân tộc anh em, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ là 1.569 người, chiếm 44,2% dân số. Dân số đến cuối năm 2006 là 4,81 triệu người. Đến cuối năm 2007, dân số là 4,81 triệu người.
Người Kinh chiếm 67%, cư dân các tộc thiểu số chiếm 33%. Đến nay, toàn vùng Tây nguyên có 53/54 tộc người. Theo Tổng điều tra dân số năm 2019, tính đến ngày 01/4/2019 dân số Tây Nguyên có 5.681 triệu người (chiếm 6,3% dân số cả nước) với 53/54 dân tộc sinh sống tại 5 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng, trong đó dân tộc thiểu số (DTTS) có 2.149 triệu người (chiếm 26,58%) [61].