Chương 1. KHÁI QUÁT VE DÂN TỘC H MÔNG VÀ DIEM NGHIÊN CUU cececcsesesessesssessessceecevenscussucsuesusssesssssssussusssssussussussucsecsecsessecsecssssesessecsscescsseens 4 1. Về điểm nghiên CU. Châu Hồng Hà, tinh Vân Nam.
Huyện Sapa, tỉnh Lào Cai. ĐẶC TRUNG VAN HOA CUA DAN TOC H’MONG Ở CHAU HONG HA TINH VAN NAM ov cccccccescsscsssessssssessesscsevssececsecssecaussucsucsaeavenseess 9 2. Van hoa vat CHAE. Âm thure voccccccccccecsseseseseseceesecsesesesssesssssesaassessssessssavesavassssssceesevevees 9 2.
LG 0nng sp 15 2. Các lễ thức dân gian. 2-22 ©kSt SE E121 cEEre2 16 2. - LG Gv ng ng 16 2.
-- ng HH ng ng 17 2. Lễ đạp núi hoa. -- 2 ssExE t1 EE119E1221127171271 2115 cEreg 18 2. Ngôn ngữ, chữ vidt o.
Tin ngưỡng và tôn giáO.-- --- G123 3 212 2x se se gxg 23 2. Tin ngưỡng.-- -- ----sc-s ca kh vn TH HT nh ng nu nưếc 23 2. ccceccccssssscssscssceccsscscessccsscesccaesescessesseeasessesssacenes 25 Chương 3. MỘT VÀI SO SÁNH VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC H'MÔNG Ở HUYỆN SA PA, TINH LAO CAI.ÔÒ 36 l TÀI LIEU THAM KHẢO.----- -©+5+22++E++E+EE£EEEEEEEEErErrrerrrrrerrervres 37 ):10806%£Ý£tỶÊỶẲỒồ.1XL4S MỞ DAU 1.Tính cấp thiết của đề tài H mông là một dân tộc có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Đó là một trong 54 tộc người của Việt Nam và cũng là một trong 56 tộc người của Trung Quốc. Mặc dù có chung một nguồn gốc tộc người, song do cư trú ở những vùng lãnh thé với những điều kiện tự nhiên và thể chế chính trị khác nhau nên văn hóa của họ ở mỗi quốc gia vừa có sự tương đồng, lại vừa mang những nét khác biệt. Do cư trú ở nhiều quốc gia, nên văn hóa của tộc người này từ lâu đã đón nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia, ít có cái nhìn đối sánh, mang tính xuyên quốc gia.
Việc thực hiện những nghiên cứu mang tính so sánh về tộc người này ở những địa bàn thuộc hai hay nhiều quốc gia còn rất hạn chế. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện đề tài này sẽ góp phần cung cấp thêm những tư liệu có giá trị về bức tranh văn hóa đa sắc màu của dân tộc H°mông trên thế giới, đưới góc nhìn đối sánh giữa hai điểm nghiên cứu tại Trung Quốc và Việt Nam.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Về mặt khoa học, đề tài đóng góp những tư liệu có giá trị về văn hóa của một tộc người nhưng cư trú ở hai địa bàn thuộc hai quốc gia khác nhau là Trung Quốc và Việt Nam. Về mặt thực tiễn, kết quả của nghiên cứu này không chỉ góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá của người H mông nói chung mà còn tài liệu tham khảo có giá trị cho việc hoạch định chính sách hay giải quyết các vân đê (nhất là văn hóa) liên quan đến tộc người này ở cả hai quôc gia. tập trung người H mông sinh sống.
Từ nhỏ, tôi đã có cơ hội tiếp xúc với tộc người này nên đã có it nhiều hiểu biết về văn hóa của họ. Thời gian theo học tại Việt Nam, tôi cũng có cơ hội tìm hiểu về văn hóa tộc người này qua chuyến đi thực tập tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai để làm báo cáo thực tế. Từ đó, tôi đã nhận ra văn hóa của tộc người này ở hai quốc gia vừa có những nét tương đồng, vừa mang sự khác biệt. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này nham mục dich giới thiệu một số khía cạnh văn hóa đặc trưng của người H’méng ở Trung Quốc, có sự so sánh với đồng tộc của họ ở Việt Nam.
Qua sự so sánh, làm rõ được một số nét tương đồng và khác biệt trong văn hóa của một tộc người cư trú ở hai quốc gia, với những điều kiện tự nhiên - kinh tế- xã hội không giống nhau. Qua đó, nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá tích cực của dân tộc này. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: văn hóa của mỗi tộc người nói chung và của người H’méng nói riêng bao gồm rất nhiều thành tố. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu nên chúng tôi chỉ tìm hiểu một số giá trị văn hóa tiêu biểu.
Pham vi nghiên cứu: Về địa bàn nghiên cứu: châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và huyện Sapa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Về thời gian, nghiên cứu này tìm hiểu về một số giá trị văn hóa tiêu biểu của người H’méng trong truyền thống và một vài biến đổi trong giai đoạn hiện nay. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu định tính: ở Vân Nam, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp điền dã, bao gồm phỏng van sâu, thảo luận nhóm, quan sát tham dự,. - Với ngư ời H mô ng ở Việ t Na m, do hạ n chế về điề u kiệ n điề n dã, chúng tôi chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp như các bài tạp chí, công trình sách,.
đã được công bố. | - Phương pháp nghiên cứu định lượng, phương pháp tổng hợp, phân tích, phân loại, liệt kê, hệ thống cấu trúc,. để làm rõ về những nét văn hóa đặc trưng của tộc người H°mông ở các điêm nghiên cứu. Về dân tộc H'mông Không chỉ là một trong 56 dân tộc của Trung Quốc và một trong 54 dân tộc của Việt Nam, [1] dân tộc H mông còn có mặt ở khá nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Lào, Mỹ.
Cho đến nay, vấn đề nguồn gốc lịch sử và tên gọi của dân tộc H’méng đang còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Người Trung Quốc goi ngudi H’mong là Miêu Tử (FA) hay Miêu Dân (HER). Xét cầu tạo của chữ Miêu Trung Quốc ta thấy, trên là bộ thao(**), dưới là chữ điền (FA), từ đó, sau này nhiều học giả suy đoán rằng, tên gọi này có thé do người Hán đặt để chỉ một dân tộc đã biết làm ruộng. Và dần về sau, “Miêu” đã trở thành tên gọi của tộc người.
Trong Kinh Thị của Không Từ (551-479) có chép đến Tam Miêu (=i) và giải thích rằng do người ta căn cứ vào màu sắc quần áo mà gọi, gồm: Hồng Miêu, Thanh Miêu, Bạch Miêu (tức Miêu đỏ, Miêu Trắng và Miêu Xanh). Thời gian đó, có một bộ tộc Mông do tù trưởng Hữu Miêu đứng đầu, nên người ta còn gọi tat cả người Miêu là Hữu Miêu (#ï i). Truyền thuyết dân tộc Hán nhắc đến người Miêu và cho rằng, người H’méng xuất hiện sớm nhất ở khu vực trung và hạ lưu sông Trường Giang. Cách đây 5000 năm đã có liên minh bộ lạc Cửu Lê đo tù trưởng Suy Vưu làm thủ lĩnh.
Cũng trong thời kỳ này có liên minh bộ lạc khác do Hiên Viên đứng đầu, nổi lên ở thượng nguồn sông Hoàng Hà. Hai liên minh bộ lạc này luôn xung đột với nhau, cuối cùng Cửu Lê bị bại trận, Hiên Viên xưng Hoàng đế. Sang thời Nghiêu (2357-2258 trCN), Thuan (2255-2208 trCN), thư tịch vẫn nhắc đến người Miêu và những cuộc xung đột giữa Miêu tộc và Hoa tộc. Truyền thuyết được các học giả phong kiến thời sau ghi lại nên phần nhiều có sự kỳ thị dân tộc, tự tôn Hoa Hạ, khinh miệt Miêu Man.
Tiếp đó Mạc Tử có 4 ghỉ lại về chi ến tra nh giữ a Hạ Vũ và Ta m Miê u (22 05- 176 6 trC N, vua đầu của nhà Hạ là Vũ). Tướng Miêu bị trúng tên, quân Miêu bỏ chạy, Tam Miêu - suy vong. Sau đó, trải qua các triều đại Thương, Ân, Chu, Tân, Hán, Tam Quốc. thư tịch bing di, không thấy ghi chép đến Tam Miêu nữa.
Có người cho rằng, thời gian này là do thế lực phong kiến nhà Hán mạnh, người Mông phải lui xuống phương Nam cư trú, ở núi Nam Lĩnh. Ở đây người Mông cũng như các dân tộc khác đều bị phong kiến nhà Hán gọi là “Nam Man Tử” nghĩa là người man rợ ở phương Nam. Từ thời Đường lại xuất hiện danh từ “Miêu tộc” trong sử sách. “Man thư” của Phàn Xước nói đến Miêu đan ở bốn ấp: Kiềm, Kinh, Ba, Hạ, đại để thuộc miền Hồ Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên (tương tự như địa bàn người Mông hiện nay ở Trung Quốc).
Từ nguồn tư liệu thư tịch Trung Quốc trên, một số người cho rằng, Miêu Từ tổn tại trong thời kỳ Hoàng Dé (giữa thiên niên kỷ thứ III trCN) là tổ tiên của người Mông hiện nay sống ở Trung Quốc và các nơi trên thế giới. Song, trong thư tịch và cả trong truyền thuyết, danh từ Miêu bị vắng đi trong thời gian dài, hơn 2000 năm ( từ nhà Hạ 2205 trCN, đến nhà Đường 618- 907 sau CN). Tác gia Ngô Trạch Lâm và Trần Quốc Quân [6, 27] cho rằng, tộc Miêu ngày nay không phải là Tam miêu ngày xưa. Tam Miêu ngày xưa là tên nước, không phải là tên dân tộc.
Vậy tộc Miêu ngày nay có quan hệ với Tam miêu trước đây hay không? Vấn đề này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Các tác giả phương Tây là Savina va Keith Quincy [6, 27] , bằng cách - xem xét các truyền thuyết và tín ngưỡng của dân tộc Mông, đã tìm cách chứng minh họ là người có nguồn gốc phương Tây. Truyền thuyết kể lại rằng, sau sự việc tháp Babel và sự lẫn lộn ngôn ngữ, người H'mông tiến lên cư trú trên một quả đổi cao trọc, phủ đầy băng tuyết với mùa đông đằng ding. Truyền thuyết về vũ trụ của người H’méng han như giống như truyền thuyết của người Chaldee.
Chỉ có người Chaldee, người Ácmeni, người Hmông là còn nhớ truyền thuyết tháp Babel. Từ đó, Savina đã chứng minh rằng, người H’méng thời nguyên thủy đã sinh sống ở vùng Lưỡng Hà, từ đó họ đi về phía Bắc, hoặc qua miền Cáp Ca hoặc qua Turkestan vào thời kỳ không xác định > được. Nhưng biến động khí hậu khiến họ phải đi tìm vùng khí hậu ôn hòa hơn, có thể, do đó đã đưa họ đến miền Đông A. Ở đây, người Hmông đã lập nghiệp ở vùng sông Hoàng Hà hơn 25 thế kỷ trCN.
Tuy đưa ra giả thuyết trên nhưng tác giả đã không xác định được con đường di chuyên, không tìm thấy một dấu vết nào về đường đi của họ trong miễn núi An Tai, núi Thiên Sơn, và do đó tác giả cho rang có lẽ họ đã đi qua miền Tây Tạng. Savina đã đưa một tư tưởng mới vào việc tìm kiếm nguồn gốc của người H’méng, song cứ liệu tác giả đưa ra rất rời rạc, chưa đủ cơ sở khoa học, vì vậy chưa đủ sức thuyết phục.