Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên", mã số 9 31 03 02, được tác giả Đàm Thị Tấm thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Ngọc Thanh và PGS. Lâm Bá Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bản là thiết chế xã hội cơ sở và không gian văn hóa - sinh thái truyền thống của các tộc người thiểu số ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam. Trải qua các tiến trình lịch sử trong thế kỷ XX và thế kỷ XXI, dưới tác động của công cuộc đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chương trình xây dựng nông thôn mới, thiết chế bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ đang chuyển dịch sâu sắc về quy mô, tổ chức không gian, thiết chế quản lý và các quan hệ xã hội.
Văn bản luận án chỉ rõ: trước đây, các công trình nghiên cứu về người Nùng chủ yếu tập trung vào các khía cạnh đơn lẻ như nhà cửa, trang phục, ẩm thực, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc các nghi lễ vòng đời. Chưa có công trình nhân học chuyên sâu nào nghiên cứu một cách toàn diện về thiết chế tổ chức bản của nhóm Nùng Phàn Slình tại địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong cả hai chiều kích truyền thống và biến đổi đương đại. Đề tài luận án được xác lập nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung chính:
- Từ nguồn tài liệu điền dã Dân tộc học - Nhân học, chỉ rõ đặc điểm và vai trò của bản người Nùng Phàn Slình truyền thống và biến đổi.
- Phân tích vai trò, vị trí của bản trong xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế của địa phương.
- Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi của tổ chức bản truyền thống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về làng/bản; vận dụng các lý thuyết và khái niệm liên quan đến nội dung luận án.
- Chỉ rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử cư trú của người Nùng Phàn Slình, các đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội và khái quát địa bàn nghiên cứu.
- Nghiên cứu hình thức cư trú, cấu trúc và các mối quan hệ xã hội của bản truyền thống và biến đổi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình, bao gồm đặc điểm cư trú, cấu trúc bản và các mối quan hệ xã hội truyền thống cùng sự biến đổi.
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu chuyên sâu tại 4 xã có mật độ cư trú cao và ổn định của người Nùng Phàn Slình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, bao gồm: xã Hòa Bình, xã Tân Long, xã Văn Hán và xã Văn Lăng.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình biến đổi từ giai đoạn trước năm 1945 đến năm 2019, phân tích qua các mốc lịch sử: trước năm 1945 (quản lý truyền thống/thuộc địa phong kiến), giai đoạn hợp tác xã nông nghiệp (1960 - 1986), giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 và đặc biệt từ năm 1995 đến năm 2019 khi vai trò tự quản của bản gắn với chức danh trưởng thôn/trưởng xóm được tái xác lập.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu về làng xã tại Việt Nam và khu vực châu Á đã được các học giả quốc tế tiếp cận từ sớm:
- Các ghi chép lịch sử của thương nhân phương Tây như S. Baron với Mô tả vương quốc Đàng ngoài, Richard với Lịch sử Đàng ngoài.
- Nghiên cứu nhân học và kiến trúc làng bản: Katherine D. Blair với Four Villages: Architecture in Nepal nghiên cứu hình thức định cư và kiến trúc; Clarence J. với Studies of Okinawan Village Life phân tích các loại hình cư trú cụm, mật tập và rải rác; Lemoine Jacques (1973) với Một làng Hmông Xanh ở Thượng Lào phân tích tổ chức xã hội, vai trò kinh tế của nóc nhà và quan hệ dòng họ; Georges Condominas (1997) với Không gian xã hội vùng Đông Nam Á mô tả chi tiết không gian sinh tồn khép kín của làng Sar Luk.
- Nghiên cứu biến đổi làng xã: Mohinder Singh Randhawa với Developing village India: Studies in village problems; Christer Gunnarsson và Mason C. Hoadley với The Village Concept in the Transformation of Rural Southeast Asia phân tích tác động chính sách nhà nước đến sự suy yếu và chuyển đổi của làng tại Indonesia, Malaysia và Thái Lan.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu làng người Việt: Các công trình cổ điển và chuyên khảo của Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Ngô Tất Tố (Việc làng), Hoàng Đạo (Bùn lầy nước đọng), Nguyễn Hồng Phong (Xã thôn Việt Nam), Viện Sử học (Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại), Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ), Bùi Xuân Đính (Hương ước và quản lý làng xã, Hành trình về làng Việt cổ, Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai - truyền thống và biến đổi), Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hoá, Làng Việt Nam đa nguyên và chặt), Diệp Đình Hoa và nhóm tác giả (Làng Nguyễn: Tìm hiểu làng Việt), Nguyễn Quang Ngọc (Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVII – XIX, Một số vấn đề làng xã Việt Nam).
- Nghiên cứu làng bản các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc: Cầm Trọng và Nguyễn Ngọc Thanh (1993, Làng bản của các dân tộc thiểu số miền núi miền Bắc Việt Nam); Phương Bằng (Báo cáo điền dã dân tộc học Bản Tày); các công trình của Nguyễn Ngọc Thanh về thiết chế và nghi lễ làng bản của người Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, H'mông, Hà Nhì, Cao Lan; Hoàng Bé và Hoàng Minh Lợi (Làng bản của người Tày); Đỗ Thúy Bình (Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam); Trần Văn Quyền (Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai Thái Nguyên); Triệu Quỳnh Châu (Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng); Lý Hành Sơn về thôn làng người Dao ở Ba Bể và những biến đổi hiện nay.
- Nghiên cứu về người Nùng và người Nùng Phàn Slình: Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Văn Thư, Hoàng Hoa Toàn, Viện Dân tộc học (1992, Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam); Hoàng Nam (Dân tộc Nùng ở Việt Nam); Đàm Thị Uyên (Văn hóa dân tộc Nùng ở Cao Bằng); Hoàng Minh Lợi và Phan Đình Thuận nghiên cứu về nhà ở; Lê Văn Bé nghiên cứu trang phục cổ truyền; Vương Xuân Tình và Nguyễn Ngọc Thanh nghiên cứu tập quán bảo vệ rừng và luật tục; Trần Văn Hà (1999) nghiên cứu văn hóa sản xuất nông nghiệp; Nguyễn Thị Yên khảo sát tín ngưỡng dân gian và thầy cúng; Nguyễn Anh Tuấn phân tích vốn xã hội qua nghi lễ tang ma tại Tân Long; Nguyễn Thị Ngân phân tích tang ma và tổ chức hàng phường của người Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên; Lê Minh Anh nghiên cứu quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình tại Cao Lộc (Lạng Sơn).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu mô tả bản trong trạng thái tĩnh truyền thống, chưa làm rõ biến đổi của cấu trúc bản và mô hình quản trị qua từng thời kỳ lịch sử, đồng thời chưa gắn kết vai trò của thiết chế bản với chương trình xây dựng nông thôn mới tại một địa bàn cụ thể. Luận án đi sâu giải quyết cấu trúc thực thể, thiết chế xã hội, quan hệ nội - liên tộc người và xu hướng biến đổi của bản người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng hai lý thuyết nhân học nòng cốt:
- Lý thuyết Không gian xã hội (Social Space): Kế thừa quan điểm của Henri Lefebvre về không gian như một sản phẩm xã hội (gồm hoạt động không gian, các thể hiện của không gian và không gian thể hiện) và Georges Condominas (1977) về không gian xã hội là tập hợp hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người (quan hệ với môi trường, trao đổi của cải, giao tiếp, họ hàng, xóm giềng). Luận án tiếp cận bản Nùng Phàn Slình như một không gian văn hóa - sinh thái - xã hội mở.
- Lý thuyết Biến đổi xã hội (Social Change): Tiếp cận từ quan điểm của Marx Gluckman (phân biệt biến đổi lặp lại trong hệ thống và biến đổi của toàn bộ hệ thống), Thomas Barfield, Peter Dwyer và Monica Minnegal (tiếp cận thích nghi và chuyển đổi) để phân tích các biến đổi vi mô và vĩ mô của tổ chức bản dưới tác động của chính sách nhà nước và kinh tế thị trường.
Hệ thống khái niệm công cụ được định nghĩa chuẩn xác từ văn bản: Bản, Tổ chức xã hội (Social organization), Tổ chức hội (association) (phân loại thành: Nhóm, Mạng lưới, Loại), Truyền thống, Biến đổi, Biến đổi xã hội, Sở hữu tập thể, Sở hữu cá nhân, Sở hữu đất đai, Sự chiếm hữu đất đai (Land tenure) (gồm quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền quản trị), Sở hữu chung của cộng đồng, Hương ước/Quy ước, Thiết chế tự quản, Gia đình.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp chuyên ngành Nhân học:
- Phương pháp điền dã Dân tộc học (thực hiện từ 2013 đến hết 2019):
- Quan sát và quan sát tham dự: Trực tiếp khảo sát không gian sản xuất, nguồn nước, rừng ma, nghĩa địa, cấu trúc nhà sàn; tham gia các sinh hoạt cộng đồng, lễ hội (Lồng tồng, Oóc pò), tang ma, cưới xin, họp bản, họp hàng phường.
- Phỏng vấn sâu (PVS): Phỏng vấn cán bộ xã, già làng, trưởng bản, thầy cúng (thầy Tào, thầy Mo), nghệ nhân, người cao tuổi (ông Hoàng Văn Ph, ông Hoàng Văn T, ông Hoàng Văn H...) về nguồn gốc dòng họ, quá trình di cư, phong tục, quản lý tài nguyên và việc triển khai xây dựng nông thôn mới (mỗi cuộc khoảng 1 giờ).
- Thảo luận nhóm (FGD): Tổ chức các cuộc thảo luận với 4 nhóm đối tượng riêng biệt (nhóm nam giới; nhóm phụ nữ; nhóm hỗn hợp; nhóm cán bộ), mỗi nhóm từ 6 đến 8 người, thời lượng khoảng 2 giờ/cuộc.
- Phương pháp biểu đồ: Sử dụng biểu đồ hình cột để định lượng và so sánh cơ cấu, tỷ lệ phân bố các dòng họ tại các điểm nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu thứ cấp: Khai thác số liệu thống kê, báo cáo hành chính tại UBND huyện Đồng Hỷ, UBND 4 xã khảo sát, Chi cục Thống kê, Trung tâm Lưu trữ tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và tộc người nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa y văn, xác lập khung lý thuyết, làm rõ điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ và lịch sử thiên di của tộc người. Đồng Hỷ nằm ở tọa độ 21°32’ đến 21°51’ vĩ độ Bắc, 105°46’ đến 106°04’ kinh độ Đông, địa hình thấp dần từ đông bắc xuống tây nam, diện tích tự nhiên 520,08 km². Dân số toàn huyện theo điều tra tháng 7/2019 là 90.709 người, trong đó dân tộc Nùng có 17.178 người (chiếm 18,93%).
Người Nùng Phàn Slình tại Đồng Hỷ có nguồn gốc di cư từ châu Vạn Thành (Quảng Tây, Trung Quốc) sang các huyện Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (tỉnh Lạng Sơn) từ 200 - 300 năm trước, sau đó chuyển cư xuống Thái Nguyên từ đầu thế kỷ XX (cao điểm các năm 1920 - 1930, sau khởi nghĩa Bắc Sơn 1940 và năm 1947). Gia phả dòng họ Lâm (slình Lằm) ghi nhận bà tổ Lý Xì Phùng vào Lạng Sơn năm 1743; dòng họ Lăng ghi nhận cụ tổ Lăng Minh Đơn vào năm 1750.
Đặc trưng văn hóa - xã hội truyền thống thể hiện qua:
- Cư trú nhà sàn bốn mái lợp ngói âm dương hoặc lá cọ, phân chia không gian trên - dưới, trong - ngoài (nả nưa dành cho nam giới/khách, nả tẩư dành cho phụ nữ), bố trí 2 bếp sinh hoạt và 1 bếp gầm sàn.
- Trang phục chàm đặc trưng: phụ nữ mặc áo năm thân (ăn slửa), quần chân què (khòa), vấn tóc (cuổn thú), đeo xà tích, vòng bạc; trước đây có tục bịt một răng vàng đồng thau làm duyên và mang túi vải đen (ăn tảy).
- Thiết chế gia đình phụ quyền nghiêm ngặt, dòng họ (slình) tính theo dòng cha, tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn dòng họ triệt để. Tên đệm các thế hệ theo thứ tự: Tăng $\rightarrow$ Sào $\rightarrow$ Chấn $\rightarrow$ Tô $\rightarrow$ Tình $\rightarrow$ Sình $\rightarrow$ Trung $\rightarrow$ Dỉ.
- Hệ thống tín ngưỡng: thờ tổ tiên (trổ), Táo quân (Pẹc Chào hoặc Mể Ngộ Tày), Bà Mụ (Mẻ Joọc), ma cửa (phí pạc tu), và đặc biệt là tục thờ thần An Phủ Đại Vương (Nùng Trí Cao) tại sàn phơi ngoài trời (phí tháng sàn).
Bốn địa bàn nghiên cứu được khảo sát có các đặc điểm dân số và kinh tế cụ thể:
| Xã khảo sát |
Diện tích |
Đặc điểm dân cư và dân tộc |
Hoạt động kinh tế chính |
Tình trạng nông thôn mới |
| Hòa Bình |
12,46 km² |
726 hộ, ~2.900 người; Kinh chiếm 54%, Nùng có 816 người |
Lúa nước, ngô, cây ăn quả, trồng chè (233 ha) |
Đạt chuẩn NTM năm 2015 (QĐ 2091/QĐ-UBND) |
| Tân Long |
141,14 km² |
1.519 hộ; Nùng đông nhất (844 hộ/3.092 người, 47,43%), Kinh, H'mông, Dao |
Nông nghiệp quảng canh, trồng chè, cây ăn quả; tỷ lệ nghèo >20% |
Xã vùng cao đặc biệt khó khăn |
| Văn Hán |
65,46 km² |
17 bản, 2.546 hộ, >10.000 người; Kinh 55,6%, Nùng 36,5% (3.496 người) |
Vùng chuyên canh chè (815 ha kinh doanh, 5 làng nghề chè), trang trại |
Đạt chuẩn NTM năm 2019 (QĐ 582/QĐ-UBND) |
| Văn Lăng |
63,03 km² |
16 bản, 4.555 người; Kinh 32,3%, H'mông 29,7%, Dao 17,7%, Nùng 15,1% |
Trồng rừng, chè, chăn nuôi gia súc (dê, bò) trên núi đá |
Xã vùng cao xa trung tâm nhất |
Chương 2: Đặc điểm, cấu trúc bản của người Nùng Phàn Slình
Chương 2 phân tích các tiêu chí phân loại bản theo địa hình (bản thung lũng, bản chân đồi núi đá), theo thành phần dòng họ và quy mô dân số. Tên bản thường được đặt theo địa danh tự nhiên, cây cối, nguồn nước hoặc tên sự kiện lịch sử khai phá. Nguyên tắc lập bản truyền thống dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa nguồn nước canh tác lúa, đất đai thung lũng màu mỡ và thế tựa lưng vào chân đồi, chân núi đá vôi.
Tổ chức không gian bản cấu thành từ 4 tiểu không gian:
- Không gian cư trú: Các nếp nhà sàn bố trí uốn lượn theo sườn đồi, tạo mặt bằng khép kín nhìn ra cánh đồng. Năm 2018, số lượng nhà sàn còn bảo lưu lớn tại các bản: Làng Mới, Đồng Mây, Đồng Luông, Ba Đình (xã Tân Long); Tân Đô (xã Hòa Bình); Cầu Mai, La Đùm (xã Văn Hán); Khe Moong, Khe Quân (xã Văn Lăng).
- Không gian sản xuất: Gồm đồng ruộng lúa nước ở bồn địa trung tâm, nương ngô trên sườn dốc và các đồi chè, khu chăn thả trâu, dê.
- Không gian sinh hoạt công cộng và nguồn nước: Hệ thống mó nước tự nhiên, khe suối, đường liên gia, giếng nước ngầm và nhà văn hóa xóm hiện đại.
- Không gian tâm linh: Khu rừng ma (đông thung), nghĩa địa dòng họ và các miếu thờ Thổ công, gốc cây thiêng đầu bản.
Cơ cấu dân cư phân bổ qua 11 bản khảo sát cho thấy quy mô hộ gia đình người Nùng Phàn Slình phổ biến từ 4 đến 5 nhân khẩu/hộ. Phân tích cơ cấu dòng họ qua số liệu biểu đồ chỉ ra tính chất đa dòng họ nhưng luôn có 1 đến 2 dòng họ hạt nhân sáng lập bản chiếm ưu thế áp đảo về tỷ lệ nhân khẩu (như họ Lăng ở Đồng Mẫu; họ Lâm ở Tân Đô, Ba Đình, Làng Mới; họ Hoàng ở La Đùm).
Chương 3: Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản
Chương này nghiên cứu sâu về quyền sở hữu đất đai, bộ máy quản trị và mạng lưới xã hội:
- Sở hữu và sử dụng đất đai: Trước năm 1945, ruộng đất tồn tại dưới dạng sở hữu tư nhân của địa chủ, phú nông dân tộc thiểu số đan xen với đất công làng bản khai phá. Sau năm 1945, qua các giai đoạn cải cách và hợp tác hóa, quyền sở hữu chuyển sang tập thể. Từ chính sách giao đất giao rừng và Luật Đất đai năm 1993, quyền sử dụng đất được giao ổn định lâu dài cho từng hộ gia đình (khảo sát cụ thể tại các bản Cầu Mai, La Đùm, Ba Đình, Đồng Mẫu, Làng Mới).
- Hình thức quản lý bản qua 4 thời kỳ:
- Trước 1945: Tự quản truyền thống do Trưởng bản (quan lang/già làng) điều hành dựa trên tập quán, luật tục bất thành văn.
- 1945 - 1960: Bước đầu thiết lập chính quyền nhân dân, xóa bỏ bộ máy kỳ hào phong kiến.
- 1960 - 1986: Thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao; vai trò tự quản của bản bị mờ nhạt, quyền quản lý kinh tế - xã hội tập trung vào Ban quản trị Hợp tác xã và Chủ nhiệm HTX.
- Từ Đổi mới (1986), đặc biệt từ 1995 đến 2019: Tái lập và củng cố thiết chế tự quản cấp bản; chức danh Trưởng thôn/Trưởng xóm thay thế Chủ nhiệm HTX, kết hợp giữa pháp luật nhà nước và quy ước, hương ước thôn bản mới.
- Quan hệ cộng đồng và mạng lưới xã hội:
- Mối quan hệ dòng họ (slình) giữ vai trò cố kết huyết thống, điều hòa mâu thuẫn nội bộ.
- Quan hệ xóm giềng láng giềng tương trợ qua hình thức đổi công (dúp cồng), giúp dựng nhà, thu hoạch mùa màng.
- Tổ chức phi quan phương Hàng phường: Nhóm liên kết tự nguyện giữa các gia đình láng giềng hoặc thân tộc nhằm hỗ trợ tài chính, vật phẩm, công lao động trong các biến cố vòng đời (đặc biệt là việc cưới và việc tang).
- Quan hệ liên tộc người: Mối quan hệ cộng cư hòa bình, tương trợ sản xuất và giao lưu văn hóa giữa người Nùng Phàn Slình với người Kinh, Tày, H'mông, Dao, Sán Chay trên cùng địa bàn huyện Đồng Hỷ.
Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi của bản và một số vấn đề đặt ra
Chương 4 chỉ ra các nhóm nguyên nhân thúc đẩy biến đổi:
- Các nhân tố tác động: Chủ trương Đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; Luật Đất đai; Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; tác động của kinh tế thị trường, cơ giới hóa nông nghiệp và sự phát triển hạ tầng giao thông, thông tin truyền thông; biến động môi trường tự nhiên.
- Xu hướng biến đổi:
- Không gian bản chuyển từ khép kín sang mở rộng, kết nối liên vùng; nhà ở có xu hướng chuyển đổi từ nhà sàn truyền thống sang nhà xây cấp bốn, nhà bê tông mái bằng; chuồng trại gia súc được tách xa không gian cư trú.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ tự cấp tự túc thuần nông sang kinh tế hàng hóa (chuyên canh cây chè, kinh doanh dịch vụ nhỏ, chăn nuôi trang trại dê, lợn, gà).
- Thiết chế quản lý chuyển từ luật tục đơn thuần sang mô hình tự quản pháp quyền kết hợp hương ước/quy ước văn hóa nông thôn mới.
- Quan hệ gia đình và dòng họ có sự nới lỏng về tính gia trưởng; vị thế người phụ nữ được nâng cao; hình thức đặt tên đệm theo thế hệ truyền thống dần bị bãi bỏ.
- Một số vấn đề đặt ra: Nguy cơ mai một các giá trị văn hóa phi vật thể (làn điệu sli, hát Cò lảu, tiếng mẹ đẻ trong giới trẻ); biến dạng cảnh quan kiến trúc nhà sàn truyền thống; ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi và bao bì thuốc bảo vệ thực vật từ cây chè; phân hóa giàu nghèo cục bộ.
- Khuyến nghị và giải pháp: Hoàn thiện quy ước thôn bản gắn với thực thi pháp luật; bảo tồn có chọn lọc kiến trúc nhà sàn và lễ hội truyền thống (Lồng tồng, Oóc pò); quy hoạch vùng sản xuất chè VietGAP gắn với liên kết chuỗi giá trị; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ trưởng xóm người dân tộc thiểu số.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng và kiểm chứng thành công Lý thuyết Không gian xã hội của Georges Condominas, Henri Lefebvre và Lý thuyết Biến đổi xã hội trong nghiên cứu một đơn vị cư trú tộc người cụ thể tại miền núi Bắc Bộ.
- Làm sáng tỏ bản chất của tổ chức bản không chỉ là một đơn vị hành chính lãnh thổ thuần túy mà là một thiết chế văn hóa - xã hội đa tầng, vận động linh hoạt thích ứng với các bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội qua các thời kỳ lịch sử.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống đầu tiên về tổ chức bản truyền thống và biến đổi của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với hệ thống tư liệu điền dã dân tộc học thực chứng dày dặn từ năm 2013 đến năm 2019.
- Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu thực tế đáng tin cậy cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách tại địa phương trong việc triển khai hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người thiểu số và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với quản trị xã hội nông thôn miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn nghiên cứu thực địa mới chỉ tập trung tại 4 xã (Hòa Bình, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng) thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; các khảo sát định lượng chủ yếu dừng lại ở mốc thời gian trước năm 2020.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên với cộng đồng gốc tại Lạng Sơn hoặc các địa bàn di cư khác ở Tây Nguyên; khảo sát sâu hơn tác động của chuyển đổi số và phát triển du lịch cộng đồng nông thôn đối với thiết chế bản trong giai đoạn sau năm 2020.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy ước thôn bản, triển khai các tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc thù tộc người thiểu số tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học, Văn hóa học: Cung cấp nguồn tư liệu điền dã chuẩn xác về cơ cấu dòng họ, nghi lễ vòng đời, thiết chế tự quản hàng phường và phương pháp luận tiếp cận không gian xã hội tộc người.
- Các phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (tổ chức không gian và tiêu chí định cư bản), Chương 3 (thiết chế tự quản, tổ chức hàng phường và diễn biến quyền sở hữu đất đai qua các thời kỳ lịch sử).
Câu hỏi thường gặp
1. Người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ có nguồn gốc di cư từ đâu và bắt đầu đến địa bàn này vào thời gian nào?
Người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ có nguồn gốc xa xưa từ châu Vạn Thành (Quảng Tây, Trung Quốc), di cư sang Việt Nam định cư tại các huyện Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (tỉnh Lạng Sơn) khoảng 200 - 300 năm trước. Họ bắt đầu di cư xuống Đồng Hỷ từ đầu thế kỷ XX, cao điểm vào các năm 1920 - 1930, sau khởi nghĩa Bắc Sơn (1940) và năm 1947 do các nguyên nhân: thiếu đất canh tác, mâu thuẫn nội tộc, trốn tránh đàn áp chính trị và tìm kiếm sinh kế mới.
2. Tục thờ cúng An Phủ Đại Vương (Nùng Trí Cao) của người Nùng Phàn Slình có đặc điểm gì đặc biệt về không gian?
Tục thờ An Phủ Đại Vương của người Nùng Phàn Slình diễn ra tại không gian sàn phơi ngoài trời (phí tháng sàn hoặc phi an phủ), không đặt trong nhà. Đây là nét tín ngưỡng đặc trưng phân biệt người Nùng Phàn Slình với một số nhóm Nùng khác như Nùng Cháo. Khi mổ lợn, gia đình phải cúng tại sàn phơi trước khi đem bán hoặc chế biến; một số dòng họ duy trì tục cúng bò 3 năm một lần ở bìa rừng và không mang thịt về nhà.
3. Tổ chức "Hàng phường" trong bản của người Nùng Phàn Slình vận hành như thế nào?
Hàng phường là một tổ chức xã hội phi quan phương mang tính tự nguyện giữa các hộ gia đình có quan hệ láng giềng hoặc thân tộc sống gần nhau trong bản. Tổ chức này vận hành dựa trên nguyên tắc tương trợ cộng đồng: các thành viên đóng góp tài chính, hiện vật (thực phẩm, củi đun, gạo nếp) và công lao động giúp đỡ nhau giải quyết các công việc hệ trọng trong chu kỳ đời người, tiêu biểu nhất là tang ma và cưới xin.
4. Quy tắc đặt tên đệm theo thế hệ truyền thống của dòng họ người Nùng Phàn Slình được quy định như thế nào?
Dòng họ (slình) phụ hệ quy định chữ đệm để xác định thứ bậc vai vế giữa các thế hệ. Quy tắc đặt tên đệm cổ truyền theo 8 đời gồm: đời thứ nhất là Tăng, đời thứ hai là Sào, đời thứ ba là Chấn, đời thứ tư là Tô, đời thứ năm là Tình, đời thứ sáu là Sình, đời thứ bảy là Trung, đời thứ tám là Dỉ (tiêu biểu như gia phả họ Lăng ở bản Đồng Mẫu, xã Tân Long).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đàm Thị Tấm là công trình nghiên cứu nhân học chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc không gian sinh tồn, các thiết chế quản trị tự quản, mạng lưới dòng họ và tổ chức hàng phường truyền thống trong mối liên hệ với các biến đổi kinh tế - xã hội qua các mốc lịch sử từ trước năm 1945 đến năm 2019. Kết quả nghiên cứu khẳng định bản là một thiết chế xã hội thích ứng linh hoạt, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị nông thôn và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong tiến trình xây dựng nông thôn mới hiện nay.