Luận án tiến sĩ về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

213
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Khái quát về huyện Đồng Hỷ và người Nùng Phàn Slình

1.3. Khái quát về các điểm nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM, CẤU TRÚC BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH

2.1. Một số tiêu chí phân loại bản

2.2. Tên gọi của bản

2.3. Nguyên tắc lập bản

2.4. Tổ chức không gian của bản

2.5. Thành phần dân cư trong bản

3. CHƯƠNG 3: CÁC THIẾT CHẾ VÀ QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG BẢN

3.1. Sở hữu và sử dụng đất đai

3.2. Hình thức quản lý bản

3.3. Quan hệ cộng đồng trong bản

3.4. Mối quan hệ giữa bản người Nùng Phàn Slình với bản của dân tộc khác

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA BẢN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

4.1. Những yếu tố tác động đến biến đổi bản

4.2. Xu hướng biến đổi

4.3. Một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay

4.4. Một số khuyến nghị và giải pháp

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các khía cạnh như nhà cửa, trang phục, ẩm thực, tôn giáo và tín ngưỡng. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu vào tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình. Điều này tạo ra một khoảng trống trong nghiên cứu văn hóa và xã hội của nhóm dân tộc thiểu số này. Tổ chức bản không chỉ là nơi cư trú mà còn là không gian văn hóa, nơi thể hiện các giá trị nhân văn và phong tục tập quán của cộng đồng. Việc nghiên cứu tổ chức bản sẽ giúp làm rõ hơn về vai trò và vị trí của nó trong đời sống xã hội, đồng thời chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi của tổ chức này trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về tổ chức bản của các dân tộc thiểu số đã được thực hiện từ lâu, nhưng chủ yếu tập trung vào các khía cạnh lịch sử và văn hóa. Các tác giả đã chỉ ra rằng tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa mà còn góp phần vào việc xây dựng nông thôn mới. Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tổ chức bản có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự gắn kết cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu sâu hơn để làm rõ các yếu tố tác động đến sự biến đổi của tổ chức bản trong bối cảnh hiện nay.

II. Đặc điểm cấu trúc bản của người Nùng Phàn Slình

Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại Đồng Hỷ có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh sự đa dạng văn hóa của các dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên. Bản không chỉ là nơi cư trú mà còn là một đơn vị xã hội, nơi thể hiện các mối quan hệ cộng đồng và phong tục tập quán. Cấu trúc của bản thường bao gồm các gia đình có quan hệ huyết thống, tạo thành một cộng đồng gắn bó. Các thành viên trong bản có trách nhiệm với nhau, từ việc chia sẻ tài nguyên đến việc tổ chức các hoạt động văn hóa. Tên gọi của bản thường mang ý nghĩa sâu sắc, phản ánh lịch sử và văn hóa của cộng đồng. Nguyên tắc lập bản cũng rất quan trọng, thường dựa trên các quy định và phong tục tập quán đã được hình thành qua nhiều thế hệ.

2.1. Tên gọi và nguyên tắc lập bản

Tên gọi của bản thường được đặt theo các đặc điểm địa lý hoặc các sự kiện lịch sử có liên quan. Nguyên tắc lập bản thường dựa trên sự đồng thuận của các thành viên trong cộng đồng, thể hiện tính tự quản và tính cộng đồng. Điều này không chỉ giúp duy trì bản sắc văn hóa mà còn tạo ra một môi trường sống hòa hợp cho các thành viên. Các quy định về việc sử dụng tài nguyên, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường cũng được quy định rõ ràng trong các hương ước của bản. Những quy định này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng.

III. Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản

Trong tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình, các thiết chế xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự và sự ổn định của cộng đồng. Các thiết chế này bao gồm các tổ chức tự quản, các hội nhóm và các quy định về quan hệ xã hội. Quan hệ giữa các thành viên trong bản thường được xây dựng trên cơ sở tình thân, sự tôn trọng và trách nhiệm. Mối quan hệ giữa bản người Nùng Phàn Slình với các bản của các dân tộc khác cũng rất quan trọng, thể hiện sự giao lưu văn hóa và sự hòa hợp giữa các cộng đồng. Những mối quan hệ này không chỉ giúp duy trì sự đa dạng văn hóa mà còn tạo ra cơ hội hợp tác trong phát triển kinh tế - xã hội.

3.1. Quan hệ cộng đồng trong bản

Quan hệ cộng đồng trong bản thường được thể hiện qua các hoạt động văn hóa, lễ hội và các nghi lễ truyền thống. Các thành viên trong bản thường tham gia vào các hoạt động này để thể hiện sự gắn bó và tình cảm với nhau. Sự hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động như xây dựng nhà cửa, tổ chức lễ cưới hay tang lễ cũng là một phần quan trọng trong quan hệ cộng đồng. Những hoạt động này không chỉ giúp củng cố mối quan hệ giữa các thành viên mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Nùng.

IV. Những yếu tố tác động xu hướng biến đổi của bản

Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình đang đối mặt với nhiều yếu tố tác động từ bên ngoài, bao gồm sự phát triển kinh tế, chính sách của Nhà nước và quá trình toàn cầu hóa. Những yếu tố này đã dẫn đến sự biến đổi trong cấu trúc và chức năng của tổ chức bản. Xu hướng hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến các phong tục tập quán và lối sống truyền thống. Tuy nhiên, bên cạnh những thách thức, tổ chức bản vẫn giữ được những giá trị văn hóa cốt lõi, góp phần vào việc xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững. Việc nghiên cứu những yếu tố tác động và xu hướng biến đổi này là rất cần thiết để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Nùng Phàn Slình.

4.1. Xu hướng biến đổi

Xu hướng biến đổi trong tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình thể hiện qua sự thay đổi trong các mối quan hệ xã hội, cấu trúc gia đình và phong tục tập quán. Sự gia tăng giao lưu văn hóa và kinh tế đã tạo ra những thay đổi trong cách thức tổ chức và quản lý bản. Các thế hệ trẻ ngày nay có xu hướng tiếp cận với các giá trị hiện đại, dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận về tổ chức bản. Tuy nhiên, việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được coi trọng, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho cộng đồng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần nội dung chính của Luận án được trình bày trong 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và tộc ngƣời nghiên cứu Chƣơng 2: Đặc điểm, cấu trúc bản của ngƣời Nùng Phàn Slình Chƣơng 3: Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi của bản và một số vấn đề đặt ra 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về làng/bản là vấn đề được quan tâm của giới khoa học từ rất sớm, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học, Chính trị học, Sử học… Từ thế kỷ XVII, XVIII đề tài làng ở Việt Nam đã được các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu, trong các kho tư liệu của công ty Đông Ấn, Anh, Hà Lan, Pháp. còn lưu giữ khá nhiều tư liệu về làng ở Việt Nam do các thương nhân phương Tây biên soạn như Mô tả vương quốc Đàng ngoài của S.Baron [85], Lịch sử Đàng ngoài của Richard [41], Vương quốc Đàng ngoài, hành trình và truyền giáo của A.

Nhìn chung, các cuốn sách này mới chỉ tập trung ghi chép một số vấn đề về làng xã Việt Nam. Với chủ đề làng/bản hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài như Katherine D. Blair có Four Villages: Architecture in Nepal (Kiến trúc ở Nepal, nghiên cứu đời sống của 4 làng) với 67 trang, tác giả đã giới thiệu về địa lí, khí hậu, các hình thức định cư, sự đa dạng dân tộc và các chủ đề liên quan [128]. Tìm hiểu về đời sống của những người dân trong làng có công trình Studies of Okinawan Village Life (Nghiên cứu về đời sống làng Okinawan) của Clarence J.

Trong đó, tác giả đã mô tả, phân tích sâu về làng ở Okinawa với nhiều tư liệu sinh động giúp cho người đọc có được những thông tin hữu ích về đời sống của những người dân địa phương. Clarence đã giới thiệu ba loại hình cư trú đại diện cho làng Okinawan là: cư trú theo cụm, mật tập và cư trú rải rác. Hàng loạt các chủ đề được tác giả giới thiệu: công nghệ, hệ thống gia đình, các ảnh hưởng thời chiến tranh, các hoạt động trợ cấp, vòng đời và tôn giáo [131]. Cũng hướng nghiên cứu trên, năm 1973, Lemoine Jacques xuất bản Một làng Hmông Xanh ở Thượng Lào.

Tác phẩm này đã mô tả chi tiết và cụ thể tổ chức xã 8 luan an hội của người Hmông Xanh. Theo đó, các nóc nhà được coi là tế bào kinh tế, việc trao đổi buôn bán, tích lũy vốn và phân hóa xã hội, cho vay và nợ nần thông qua đồng Kíp - đồng tiền Lào hiện hành được phân tích rõ ràng, cụ thể. Vai trò xã hội của các thành viên trong gia đình, dòng họ được nghiên cứu một cách sâu sắc [42]. Về không gian làng/bản, trong Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, năm 1997, Georges Condominas đã mô tả từng chi tiết nhỏ nhất của làng Sar Luk, từ sản xuất cho đến sinh hoạt tín ngưỡng được mô tả như một chu kì khép kín, tuần tự.

Nghiên cứu của ông mang cả chiều cạnh không gian và thời gian. Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, đặc điểm kinh tế và xã hội mà nó có những biên độ khác nhau [32]. Nghiên cứu về xu hướng phát triển của làng có Developing village India: Studies in village problems (Làng đang phát triển ở Ấn Độ: Nghiên cứu các vấn đề về làng xã) của Mohinder Singh Randhawa. Theo tác giả, hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa có sự tác động hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển của làng.

Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu khá rộng, mang tính khái quát, không đi sâu cụ thể từng làng riêng biệt [133]. Ngoài ra, còn có The Village Concept in the Transformation of Rural Southeast Asia (Khái niệm làng trong quá trình chuyển đổi ở vùng nông thôn Đông Nam Á) do Christer Gunnarsson và Mason C. Hoadley đồng tác giả trình bày sự phát triển nhanh chóng của làng tại các nước Indonesia, Malaysia và Thái Lan, gồm 4 phần: Phần một, tác giả cho rằng, làng là một sự sáng tạo của nhà nước thuộc địa. Phần hai, chỉ ra nguyên nhân làm suy yếu các ngôi làng và giải pháp khắc phục.

Phần ba, tập trung nghiên cứu các ngôi làng ở Thái Lan và phần cuối đề cập các chính sách của nhà nước tác động tới đời sống của những người dân sống trong những ngôi làng ấy [129]. Nhìn chung, các công trình kể trên đều nghiên cứu về làng với cách tiếp cận Sử học, Dân tộc học/Nhân học. Nét nổi bật là sự đa dạng về hình thức tổ chức, không gian xã hội và sự phát triển của mỗi làng phụ thuộc vào điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của mỗi đất nước. Qua đó, cũng thấy được những đặc trưng văn hóa riêng của mỗi dân tộc ở mỗi quốc gia.

Điều này góp phần định hướng cho NCS tìm hiểu về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu về làng người Việt và làng/ bản ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Nghiên cứu về làng Việt xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đó là các công trình của Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục [14]; Ngô Tất Tố với Việc làng [106]; các bài báo của Hoàng Đạo đăng trong tập Bùn lầy nước đọng trên tạp chí Phong hóa [25]. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, hàng loạt các tác phẩm của các học giả Việt Nam nghiên cứu tổng quan về làng xã đã được công bố, tiêu biểu là các cuốn sách: Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phon[74], các bộ Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977, 1978) [121], Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại do Viện Sử học biên soạn (1990, 1991) [122], Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ [110], cùng rất nhiều sách, bài, tạp chí theo các chuyên đề, như Hương ước và quản lý làng xã của Bùi Xuân Đính [28], Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hoá của Phan Đại Doãn (1992, 2000) [20], Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVII – XIX của Nguyễn Quang Ngọc, [64], Hành trình về làng Việt cổ [29], Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai - truyền thống và biến đổi của Bùi Xuân Đính [30]; Phan Đại Doãn, Làng Việt Nam đa nguyên và chặt [21]; Diệp Đình Hoa, Nguyễn Văn Bàng, Nguyễn Quang Nghị, Nguyễn Cao Sơn, Làng Nguyễn: Tìm hiểu làng Việt [35]; Nguyễn Quang Ngọc, Một số vấn đề làng xã Việt Nam [65].

Nghiên cứu về bản của các dân tộc thiểu số, có thể đề cập tới một số công trình sau đây: Năm 1993, Cầm Trọng và Nguyễn Ngọc Thanh giới thiệu Làng bản của các dân tộc thiểu số miền núi miền Bắc Việt Nam trên Tạp chí Dân tộc học số 2. Các tác giả cho rằng, làng bản là một khái niệm mới biểu thị nhận thức của người Việt Nam về đất nước và con người. Đồng thời đưa ra cách phân loại làng bản theo vùng địa lí cư dân và loại hình kinh tế - xã hội truyền thống [94]. Bàn về sự hình thành và điều kiện thành lập bản có Báo cáo điền dã dân tộc học Bản Tày của Phương Bằng.

Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra điều kiện cần 10 luan an và đủ để đi đến kết định thành lập bản, đất ruộng và nước tưới là điều kiện tiên quyết. Chính điều kiện cư trú và canh tác là nguyên nhân tạo ra những bản Tày có cá tính riêng, như: nền kinh tế nhỏ mang nặng tính tự cấp tự túc và quan hệ giữa các bản và hệ thống chợ tạo nên sự trao đổi mua bán giữa các cư dân trong vùng [9]. Nghiên cứu về bản và các thiết chế xã hội của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Làng bản và nghi lễ của người Dao Đỏ ở một xã miền núi [80]; Làng của người Hmông ở Việt Nam [96]; Làng bản của người Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ [97]; Một số đặc điểm về thiết chế làng bản của người Hà Nhì ở miền núi phía Bắc Việt Nam [98]; Một số đặc điểm làng bản của người Cao Lan ở Vĩnh Phúc [99]; Thiết chế bản của người Dao [101]. Nhìn chung, các bài viết này đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của tổ chức bản truyền thống trên các khía cạnh: ý nghĩa của tên bản, không gian sinh tồn, bộ máy tự quản, quy ước… Tuy nhiên, những yếu tố tác động và nguyên nhân biến đổi còn chưa được tác giả quan tâm đúng mức.

Nghiên cứu về đặc điểm làng bản, Hoàng Bé và Hoàng Minh Lợi có bài Làng bản của người Tày đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 4 đề cập tới nhà cửa, việc thờ cúng thần Cốc bản và Thổ công, tổ chức gia đình, tổ chức xã hội, sinh hoạt lễ nghi, và các quan hệ đạo đức xã hội, đồng thời nêu ra những vấn đề cấp bách cần được giải quyết trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng nông thôn mới đối với các làng bản người Tày ở Bắc Kạn [12]. Cũng theo hướng nghiên cứu trên, trong cuốn Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Đỗ Thúy Bình cho rằng bản người Tày, Nùng, Thái đều nằm dưới các chân núi, sườn đồi. Số lượng nhà cửa trong một bản khá lớn, đôi khi đạt và vượt quá trăm nóc. Người Tày, Thái sống ở nhà sàn, còn người Nùng tùy từng nơi vừa sống ở nhà sàn, vừa sống ở nhà nền đất.

Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích chi tiết đặc điểm bản của tộc người nghiên cứu [13]. Nghiên cứu về không gian cư trú làng bản có thể đề cập đến hai luận văn thạc sĩ lịch sử của Trần Văn Quyền Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai Thái Nguyên [97] và Triệu Quỳnh Châu Làng bản của người Tày ở huyện 11 luan an Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng [16]. Ở cả hai công trình đã tập trung giới thiệu không gian sinh tồn, cơ cấu tổ chức, những đặc trưng và vai trò của bản trong lịch sử, những thay đổi của làng/bản người Tày từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Đàm Thị Tấm, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngọc Thanh và PGS. Lâm Bá Nam, tập trung vào việc nghiên cứu tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các khía cạnh văn hóa, xã hội của cộng đồng người Nùng mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức tổ chức cộng đồng, các phong tục tập quán và vai trò của tổ chức bản trong đời sống của người Nùng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận Văn Đánh Giá Cán Bộ Công Chức: Phân Tích Lý Luận và Thực Tiễn, nơi phân tích lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ, hay Luận án tiến sĩ về văn hóa chính trị trong thời kỳ thịnh Trần, cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa chính trị trong một giai đoạn lịch sử quan trọng. Cuối cùng, bài viết Luận văn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thi đua khen thưởng cấp huyện tại tỉnh Thanh Hóa cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các tổ chức. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề xã hội và văn hóa hiện nay.