Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Trong chương này tác giả đi từ cơ sở lý luận trình bày các khái niệm liên quan, lý thuyết tiếp cận được sử dụng để lý giải trong nghiên cứu. Bên cạnh đó, phần cơ sở thực tiễn chúng tôi đi từ khái quát đặc điểm tự nhiên và dân cư huyện Lạc Dương cho đến đi vào cụ thể không gian cư trú của người Cơho Chil, quá trình lịch sử tộc người và những nét đặc trưng xã hội truyền thống của người Cơho Chil. Đây là nền tảng để chúng tôi phân tích cho các chương tiếp theo. Chương 2: Văn hóa mưu sinh của người Cơho Chil thích ứng với rừng Chương này nhận diện và phân tích văn hóa ứng xử với rừng của người Cơho Chil qua các hoạt động khai thác kinh tế cụ thể như khai thác nguồn lâm thổ sản từ rừng với việc săn bắt hái lượm truyền thống, khai thác thảo dược nhằm chăm sóc sức khỏe; đến công việc trồng trọt và chăn nuôi của cộng đồng; hay các nghề thủ công truyền thống như dệt, đan lát… đến các nghề mới xuất hiện do nhu cầu của cuộc sống có nhiều thay đổi so với trước đây, thể hiện sự thích ứng cao của cộng đồng Cơho Chil tại huyện Lạc Dương.
Chương 3: Ứng xử với rừng của người Cơho Chil qua văn hóa xã hội 16 Nội dung chương này, chúng tôi quan tâm đến ba vấn đề lớn đó là: ứng xử của người Cơho Chil qua văn hóa vật chất như ẩm thực, trang phục, cư trú; qua văn hóa tinh thần như nghi lễ và lễ hội, tín ngưỡng - tôn giáo, diễn xướng dân gian; và văn hóa xã hội qua luật tục và quản lý xã hội của người Cơho Chil. Với từng vấn đề, chúng tôi thấy rõ cách ứng xử của tộc người trong việc bảo vệ và gìn giữ rừng như thế nào trong truyền thống cũng như hiện nay. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm Các khái niệm và thuật ngữ đóng vai trò làm cơ sở lý luận cho đề tài chúng tôi sử dụng gồm: văn hóa, ứng xử, văn hóa ứng xử, văn hóa tộc người.
Qua quá trình đọc tài liệu, chúng tôi nhận thấy có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu cho mỗi một khái niệm. * Văn hóa và ứng xử Văn hóa là một khái niệm rộng và bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Đầu tiên phải nhắc đến Tylor vào năm 1871 đã đưa ra khái niệm văn hóa (tr.13-14), cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Từ điển tiếng Việt do Hòang Phê chủ biên (1998) đã nêu lên năm định nghĩa về “văn hóa” thường được dùng hiện nay, trong đó định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh rằng: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” (tr.1061-1062) đã nêu tương đối đầy đủ khái niệm văn hóa với ý nghĩa là đối tượng của ngành Văn hóa học.
Với khái niệm ứng xử, theo Đoàn Văn Chúc (1997), là dùng “để chỉ các hoạt động (và lời nói) như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác. Và đó là những hoạt động, hoặc gọi là phản ứng theo một cách tương đối” (tr. Như vậy, dưới góc độ văn hóa xã hội, ông cho rằng ứng xử là các hoạt động và phản ứng của con người. Tác giả Ngô Công Hòan cho rằng: “ứng xử là những phản ứng, hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp do những rung cảm cá nhân kích thích” (Lê Thị Thanh Hương (cb), 2009, tr.
Phạm Khắc Chương, 18 Nguyễn Thị Hằng (2011) cũng cho rằng ứng xử chính là sự phản ứng, song hai tác giả này nhấn mạnh thêm khả năng lựa chọn phản ứng: “Ứng xử chính là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán” (tr. Cũng quan niệm ứng xử là phản ứng của con người, nhưng Trần Kim Hằng (2011) khái quát thêm quá trình hình thành ứng xử như sau: “Ứng xử là cách phản ứng của con người trong thế giới mà người đó tồn tại. Cách phản ứng này thường nhận được phản hồi từ môi trường xung quanh dưới hình thức hoặc chấp nhận hoặc phản đối.
Để được chấp nhận, con người phải tự điều chỉnh, kiềm chế những phản ứng bất lợi và cố tạo ra những phản ứng có lợi” (tr. Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy & Nguyễn Đức Dương thì nêu cụ thể nội hàm của ứng xử bao gồm thái độ, hành động, lời nói: “ứng xử là thái độ, hành động, lời nói trong tình huống nhất định, và hành vi được xem như là những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong hòan cảnh cụ thể” (Lê Thị Thanh Hương (cb), 2009, tr. Đối tượng của ứng xử rất phong phú, bao gồm với bản thân mình và nhiều thứ khác: “Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội với nhau mà còn ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên” (Đoàn Văn Chúc, 1997, tr. Phương pháp thể hiện của ứng xử khá đa dạng, như “thái độ hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao trong giao tiếp” (Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Hằng (cb), 2011, tr.
Mục đích của ứng xử “nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn sống, kinh nghiệm của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định” (Lê 19 Thị Thanh Hương (cb) 2009, tr. Như vậy, ứng xử vừa là nguồn phát, đồng thời cũng là nguồn thu. Tóm lại, ứng xử là phản ứng của con người đối với môi trường xung quanh, thể hiện qua lời nói, thái độ, hành vi, cử chỉ. Hay nói cách khác ứng xử là việc thể hiện lời nói, thái độ, hành động của con người tạo thành những mô thức ứng xử phù hợp giúp các hành vi trao đổi có mẫu số chung được mọi người chấp nhận.
Ứng xử tùy thuộc vào từng nền văn hóa, chịu sự chế định của các chuẩn mực, khuôn mẫu do nền văn hóa đó đặt ra. Có những ứng xử đối với nền văn hóa này là bình thường, nhưng đối với những nền văn hóa khác lại không bình thường. Do đó, con người cần có những ứng xử phù hợp với từng nền văn hóa. Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Hằng (2011) nhấn mạnh: “Con người khác con vật ở chỗ ứng xử của con người được gọi là ứng xử văn hóa.
Nó vừa là bản năng, đồng thời cũng là nghệ thuật. “Ứng xử còn là sự giao thao có tính nghệ thuật giữa “cái tự nhiên”, “cái xã hội” trong bản chất của con người” (tr. Tính khuôn mẫu của ứng xử thể hiện ở chỗ ứng xử “không diễn ra theo cách ngẫu nhiên, tùy tiện; mà trước mỗi loại tình huống, con người đều ứng xử theo một cách nào đấy” (Đoàn Văn Chúc, 1997, tr. Cao Hải Yến (2010) nhấn mạnh tính khuôn mẫu ứng xử “là một trạng thái nhất trí về hành động và cảm nghĩ được diễn ra ở đa số người, là ứng xử đã được tổng quát hóa, tiêu chuẩn hóa và hợp thức hóa dùng làm chuẩn mực hay chỉ nam để phân biệt ứng xử chấp nhận được và ứng xử không chấp nhận được trong xã hội” (tr.
Tương tự như vậy là quan niệm của Trần Kim Hằng (2011) cho rằng: “Từ chỗ mang tính đơn lẻ, những kiểu ứng xử dần dần được lựa chọn, đánh giá, khái quát hóa để trở thành khuôn mẫu chung cho những quan hệ ứng xử cùng loại, tức là nếp ứng xử hay khuôn mẫu ứng xử hoặc khuôn mẫu 20 văn hóa, là tiền đề của văn hóa ứng xử mang tính chuẩn mực cộng đồng, xã hội” (tr. * Văn hóa ứng xử Khái niệm văn hóa ứng xử rộng hơn khái niệm ứng xử, bởi nó đã được hệ thống hóa. “Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm lý…” (Phạm Vũ Dũng, 2002, tr. Cũng đồng quan niệm này là nhận định của Nguyễn Thị Tình, Lê Thị Kim Dung (2009) nói rằng: “Xét về phương diện hoạt động, văn hóa ứng xử là một hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu mang tính lí tưởng kết tinh những giá trị và chuẩn mực mà cá nhân và cộng đồng hướng tới” (tr.
Cao Hải Yến (2010) xếp văn hóa ứng xử vào lĩnh vực văn hóa tinh thần: “Văn hóa ứng xử là một thành tố của văn hóa tinh thần, thể hiện chiều cạnh trí tuệ và nhân văn, phản ánh đời sống tâm hồn tình cảm của cá nhân và cộng đồng trong hoạt động thực tiễn xã hội” (tr. Như vậy, văn hóa ứng xử là một hệ thống bao gồm những cách xử thế thích hợp trong cuộc sống. Nó không chỉ tạo nên nét đẹp cho từng cá nhân, mà còn phản ánh bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc. Thường thì một nền văn minh cao hơn người ta có văn hóa ứng xử tốt hơn.
Văn hóa ứng xử không chỉ thể hiện qua lời nói, cử chỉ - là thứ hiển hiện bên ngoài mà còn thể hiện ở mức độ tình cảm và cách xử lý các mối quan hệ bên trong của chủ thể đó với các đối tượng khác. Lê Thị Trúc Anh (2012) quan niệm: “văn hóa ứng xử là hệ thống các giá trị và chuẩn mực của con người, thể hiện ở cách “phản ứng phù hợp” đối với các tình huống giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội” (tr. 21 Văn hóa ứng xử là những đặc trưng giá trị trong cách ứng xử của một cá nhân được lặp đi lặp lại một cách ổn định, tạo thành dấu ấn riêng biệt hoặc phong cách ứng xử của cá nhân đó. Phong cách ứng xử đã trở thành “văn hóa ứng xử” thể hiện đặc tính riêng của người đó.
Về đối tượng và cách thức ứng xử, Trần Ngọc Thêm (2013) đã nhận xét: “Văn hóa ứng xử với môi trường nếu xét về đối tượng ứng xử thì có thể chia thành ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội. Còn xét về cách thức ứng xử thì có thể chia thành văn hóa tận dụng môi trường và văn hóa đối phó với môi trường” (tr.