Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HẢI HÀ VÀ NGƯỜI DAO THANH PHÁN Ở HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH 1. Khái quát về huyện Hải Hà 1. Vài nét về lịch sử hình thành huyện Hải Hà Hải Hà là vùng đất được hình thành từ lâu đời. Tại di chỉ khảo cổ ở vùng rừng núi Tấn Mài (xã Quảng Đức), các tiêu bản công cụ đá mang dấu vết chế tác từ bàn tay con người như rìu tay, nạo, công cụ chặt đập thô, công cụ mũi nhọn.
Trên cơ sở nghiên cứu niên đại các hiện vật được tìm thấy, các nhà khoa học khẳng định vùng đất Hải Hà đã có người Việt cổ sinh sống từ 11. Năm 1981, trống đồng tại đồi Quảng Lễ xã Quảng Chính đã được khai quật. Theo nghiên cứu sơ bộ, trống đồng Quảng Chính được xác định thuộc hệ trống đồng Đông Sơn (có niên đại cách ngày nay khoảng 2. Những di chỉ, hiện vật này cho thấy người Việt cổ đã sống ở khu vực này khá sớm, là minh chứng của sự phát triển văn hóa ở Hải Hà xa xưa [8, tr.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Hải Hà liên tục có sự thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi. Theo các nguồn sử liệu lưu trữ, thời Hùng Vương, vùng đất Hải Hà thuộc bộ Ninh Hải. Thời kỳ đầu Bắc thuộc, Hải Hà vẫn thuộc bộ Ninh Hải; sau thuộc quận Giao Chỉ, quận Ninh Hải, châu Lục. Thời Đinh, vùng đất Hải Hà thuộc trấn (lộ) Triều Dương.
Năm 1023, vua Lý Thái Tổ đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An. Năm 1242, vua Trần Thái Tông chia cả nước làm 12 lộ, vùng đất Hải Hà thuộc lộ Hải Đông, sau đổi là lộ An Bang. Năm 1407, lộ An Bang đổi là châu Tĩnh An, gồm 8 huyện, vùng đất Hải Hà thuộc huyện Vạn Ninh, châu Tĩnh An.Đầu thời Lê, châu Tĩnh An đổi lại là châu An Bang, thuộc Đồng Đạo; năm 1469 là Thừa tuyên An Bang; năm 1490 là đạo An Bang, gồm 1 phủ (3 huyện và 4 châu), trong dó vùng đất Hải Hà thuộc châu Vạn Ninh (18 xã, 2 trang, 4 động). Thời Mạc, đạo An Bang đổi gọi là trấn An Bang; thời Lê Trung Hưng gọi là xứ An Quảng (do kiêng húy vua Anh Tông Lê Duy Bang).
Đầu thế kỷ XIX, vùng đất Hải Hà thuộc Tổng Hà Môn, châu Vạn Ninh, phủ Hải Đông, trấn An Quảng. Tổng Hà Môn có 19 xã phường, chòm, xóm, am, vạn: xã Mã Tê (tức xã Mã Tế), xã Lăng Khê, xã Đại Hoàng, xã Hà Cối, xã Đàm Hà (tức xã Đầm Hà), vạn Trà cổ, vạn Mễ Sơn, xã Hà Quất Đoài, xã Hà Quất Đông, phường công ngư An Lương, xóm Na Tiền thuộc xã Hà Quất Đông, xóm Na Tiền thuộc xã Hà Quất Đoài, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn phố Mã Tê thuộc xã Mã Tê, phố Đại Hoàng thuộc xã Đại Hoàng, am Dung Quốc thuộc xã Đầm Hà, chòm Vạn Vĩ thuộc vạn Mễ Sơn, phường Mi Sơn, phường Đông Giang, phường Thanh Lãng [8, tr. Đời vua Đồng Khánh (1885 - 1889), vùng đất Hải Hà thuộc tổng Hà Môn, châu Vạn Ninh, phủ Hải Ninh, tỉnh Quảng Yên. Tổng Hà Môn có 11 xã, thôn, phố: xã Đầm Hà, xã Đại Điền, xã Hà Cối, xã Mã Tê, xã Lăng Khê, xã Hà Quất Đoài, xã Hà Quất Đông, xã Lạc Tụ, xã Lập Mã, xã Đại Lai, xã My Sơn Thủy Cơ.Tháng 6/1888, châu Vạn Ninh được đổi thành châu Hà Cối.
Hà Cối có nghĩa là vùng đất nhiều cây cỏ ven sông (nghĩa Hán Tiệt “hà” là sông, “cối” là cây cỏ rậm rạp), nơi hội tụ của thiên nhiên, con người. Ngày 10/12/1906, phủ Hải Ninh được tách khỏi tỉnh Quảng Yên, thành lập tỉnh Hải Ninh (có 3 châu: Móng Cái, Hà Cối, Tiên Yên). Châu Hà Cối có 3 tổng: Đầm Hà, Hà Cối, Mã Tế. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện quyết định của Chính phủ về xóa bỏ cấp phủ, châu, tổng, châu Hà Cối được chia thành 2 huyện: Đầm Hà và Hà Cối.
Huyện Hà Cối gồm các xã: Lăng Khê, Đường Hoa, Tấn Mài, Đại Điền Nam, Đại Điền Nùng, Quất Đoài, Mã Tế Nam, Mã Tế Nùng, Hà Cối Nam, Hà Cối Nùng, Lập Mã, Trúc Bài Sơn, My Sơn và thị trấn Hà Cối. Sau hòa bình, các đơn vị hành chính thuộc huyện Hà Cối từng bước được sắp xếp, ổn định. Năm 1958, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh chính thức ban hành quyết định công nhận huyện Hà Cối gồm 15 xã và 1 thị trấn: Hà Cối Nam, Hà Cối Nùng, Đại Đại Điền Nam, Đại Điền Nùng, Đường Hoa, Lăng Khê, Trúc Bài Sơn, Tấn Mài, Đại Lai, Mã Tế Nam, Mã Tế Nùng, Lập Mã, Phú Hải, Tiến Tới, Quất Đoài, thị trấn Hà Cối. Ngày 30/10/1963, Quốc hội quyết định hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính mới lấy tên là tỉnh Quảng Ninh.
Huyện Hà Cối thuộc tỉnh Quảng Ninh.Năm 1964, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quyết định chuyển xã Cái Chiên từ huyện Móng Cái về huyện Hà Cối. Từ đây, huyện Hà Cối có 17 đơn vị hành chính (gồm 16 xã và 1 thị trấn). Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, ngày 04/6/1969, Chính phủ ban hành Quyết định số 85/CP hợp nhất huyện Hà Cối và huyện Đầm Hà thành huyện Quảng Hà. Huyện Quảng Hà có 25 xã, 2 thị trấn: gồm 16 xã, 1 thị trấn của huyện Hà Cối và 9 xã, 1 thị trấn của huyện Đầm Hà cũ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Ngày 16/01/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 17-CP về việc phân vạch địa giới hành chính một số xã, thị trấn và đổi tên một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh. Tên một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 1979 STT Tên cũ Đổi tên 1 Thị trấn Hà Cối Thị trấn Quảng Hà 2 Xã Hà Cối Nam Xã Quảng Trung 3 Xã Hà Cối Nùng Xã Quảng Chính 4 Xã Đại Điền Nùng Xã Quảng Long 5 Xã Đại Điền Nam Xã Quảng Điền 6 Xã Đại Lai Xã Quảng Phong 7 Xã Mã Tế Nùng Xã Quảng Minh 8 Xã Mã Tế Nam Xã Quảng Thành 9 Xã Lập Mã Xã Quảng Thắng 10 Xã Quất Đoài Xã Quảng Nghĩa 11 Xã Lăng Khê Xã Quảng Thịnh 12 Xã Trúc Bài Sơn Xã Quảng Sơn 13 Xã Tấn Mài Xã Quảng Đức Nguồn: [8, tr.26] Nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường quản lý phát triển kinh tế - xã hội địa phương và nguyện vọng của nhân dân trong huyện, ngày 29/8/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2001/NĐ-CP về việc chia huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh thành hai huyện Hải Hà và huyện Đầm Hà (trước đó, Hội đồng Nhân dân Huyện Quảng Hà họp thống nhất giữ nguyên tên huyện Đầm Hà, còn huyện Hà Cối được đổi tên thành huyện Hải Hà). Theo Nghị định, huyện Hải Hà có 69.013,1 ha diện tích tự nhiên và 46. Địa giới hành chính huyện Hải Hà: phía Đông giáp thị xã Móng Cái; phía Tây giáp các huyện Bình Liêu, Đầm Hà; phía Nam giáp Biển Đông; phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Huyện có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Phú Hải, Quảng Trung, Quảng Phong, Quảng Chính, Quảng Long, Quảng Điền, Cái Chiên, Đường Hoa, Tiến Tới, Quảng Sơn, Quảng Thịnh, Quảng Minh, Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Đức và thị trấn Quảng Hà. Như vậy, từ năm 2001, địa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn giới hành chính của huyện với tên gọi Hải Hà hình thành và ổn định đến nay [8, tr. Vị trí địa lí tự nhiên và dân cư Vị trí địa lí điều kiện tự nhiên Huyện Hải Hà nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý từ 21o12’46’’ đến 21o38’27’’ vĩ độ Bắc và từ 107o30’54’’ đến 107o51’49’’ kinh độ Đông. Phía Bắc của huyện giáp Trung Quốc, với đường biên giới dài 17,2 km; phía Đông giáp thành phố Móng Cái; phía Nam giáp biển Đông, nằm trong vành đai Vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp huyện Đầm Hà và huyện Bình Liêu [8, tr.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 69.155,97 ha, bao gồm: 39.666,4 ha đất nông nghiệp, chiếm 77,5%; 4.752,53 ha, đất phi nông nghiệp, chiếm 9,2% và 6.737,04 ha đất chưa sử dụng, chiếm 13,1% diện tích đất tự nhiên; còn lại là các loại đất khác [8, tr. Huyện Hải Hà có nhiều tuyến đường quan trọng chạy qua như: Quốc lộ 18A, Quốc lộ 18B (tỉnh lộ 340 cũ), Quốc lộ 18C (tỉnh lộ 341 cũ). Quốc lộ 18A đoạn chạy qua địa bàn huyện có tổng chiều dài 27 km, từ tuyến đường này lên phía Đông Bắc 40 km là cửa khẩu Quốc tế Móng Cái, về phía Tây Nam 150km là Thành phố Hạ Long và từ đây có thể đi tới nhiều trung tâm kinh tế quan trọng của đất nước. Quốc lộ 18B nối từ Quốc lộ 18A với cửa khẩu Bắc Phong Sinh; Quốc lộ 18C chạy dọc khu vực biên giới từ huyện Bình Liêu qua Hải Hà nối với cửa khẩu Bắc Phong Sinh.
Cùng với hệ thống đường bộ, huyện có 35 km bờ biển và nhiều cửa sông, cửa biển, là điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy. Từ Hải Hà có thể đi Móng Cái, Tiên Yên, Hạ Long, Cô Tô và ra hải phận quốc tế. Vị trí địa lí, giao thông tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc giao lưu kinh tế với Khu Phòng Thành - tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Đồng thời, huyện còn có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh không chỉ đối với tỉnh Quảng Ninh mà còn có ý nghĩa đối với toàn vùng Đông Bắc nước ta.
Huyện Hải Hà nằm trong hệ thống cánh cung Đông Triều - Móng Cái, phía Tây Bắc là vùng đồi núi, phía Nam là vùng phù sa ven biển tiếp giáp với dãy núi đá vôi chắn sóng, gió cho vùng đất liền. Địa hình của huyện được chia thành 3 dạng chính: vùng đồi núi phía Tây Bắc, vùng trung du ven biển và vùng đảo [8, tr. Vùng đồi núi phía Tây Bắc: độ cao từ 200 - 1.500 m so với mặt nước biển, gồm các dãy núi cao, dạng bán bình nguyên. Điểm cao nhất 1.507 m trên dãy Quảng Nam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Địa hình chia cắt nhiều, tạo thành các thung lũng hẹp, tập trung ở các xã Quảng Sơn, Quảng Đức, Quảng Thành, Quảng Thịnh.