Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI STIÊNG 1. Lịch sử tộc người Stiêng Tên gọi Trong bảng danh mục các dân tộc Việt Nam (Ban hành theo quyết định số 121 – TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979) của Tổng cục thống kê, số thứ tự 22 có ghi dân tộc Xtiêng. Ngoài ra còn có một số cách gọi và cách viết khác như: Satiêng, Sađiêng, Xađiêng, XaChiêng, XaTiêng, Xêdiêng…Trong thời Pháp thuộc, danh từ dùng để chỉ các tộc người thiểu số ở vùng cao là “mọi”, “man”, trong đó có người Stiêng. Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất cách viết và gọi tên “Stiêng”.
Chúng tôi đi thực tế điền dã và hỏi người Stiêng về tên gọi của dân tộc mình. Phần lớn họ đồng ý với cách gọi tên và phiên âm như trên. Đây cũng là cách dùng phổ biến của một số nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây. “Theo tiếng Stiêng và cách phát âm gốc thì phải viết là Sdiêng.
Do chữ D trong tiếng Stiêng rất khó phát âm, không đọc như chữ D, Đ trong tiếng Việt, người Stiêng thường đọc chữ D như cách phát âm trong tiếng Anh, dần dần họ viết và đọc hẳn như chữ Đ trong tiếng Việt nên những người làm nghiên cứu và ghi chép về người Stiêng đã biến đổi tên từ Sdiêng thành Stiêng” [64, 7]. Người Stiêng có nhiều nhóm địa phương. Một số tài liệu cho rằng, có bốn nhóm là: Bù Đíp, Bù Lách, Bù Dek, Bù Lơ. Một vài tài liệu khác cũng ghi nhận có bốn nhóm địa phương Stiêng là: Bù Dih – Vu Dih (vùng thấp), Bù Lơ – Vu Lơ (vùng cao), Bù Biêt – Vu Viêt (nhóm ảnh hưởng người Mnông, số đầu người sông Đak Quit và tại tỉnh MunĐunKiRi) và Bù Las – Vu Las (nhóm sống ở khu vực trảng).
Hiện nay, người Stiêng chủ yếu còn tồn 14 tại hai nhóm chính là Bù Lơ và Bù Dek. Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước từ trước đến nay đều thống nhất xếp ngôn ngữ Stiêng vào họ Nam Á, nhóm Môn – Khmer. Trong quá khứ cũng như hiện tại, người Stiêng có những quan hệ về nguồn gốc, lịch sử phát triển tộc người, có mối giao lưu văn hóa với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên như Mnông, Mạ, Kơho, Khmer… Lịch sử tộc người Những tài liệu khảo cổ học, nhân chủng học ở miền Đông Nam bộ, đặc biệt là ở tỉnh Bình Phước còn quá ít để có thể giúp chúng ta hiểu thấu đáo về lịch sử, nguồn gốc tộc người Stiêng thời cổ đại. Những di tích, di chỉ tìm được ở Dốc Chùa (Tân Uyên, Bình Dương), thành Cổ Tròn (Bình Long, Bình Phước), bộ đàn đá (Lộc Ninh, Bình Phước) là những phát hiện quan trọng.
Tuy nhiên, những phát hiện ấy chưa là căn cứ chính xác để khẳng định rằng người Stiêng là chủ nhân của các nền văn hóa cổ xưa ấy. Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, một số nhà nghiên cứu người Pháp như Taber (1838), Azémar (1887), Barthélémy (1904), Raulin (1936)…đã nghiên cứu và cho ra đời một số tác phẩm về người Stiêng ở Bình Phước. Qua những tài liệu khảo cổ học, nhân chủng học, dân tộc học của các tác giả nêu trên, chúng ta có thể hình dung về địa bàn sinh sống của người Stiêng như sau: từ thời kì Đá mới đến thời kì Đồ đồng ở miền Nam Đông Dương, trong đó có vùng đất Bình Phước ngày nay là địa bàn sinh sống của người Stiêng (nhóm Indônêdiêng) cổ đại, ngôn ngữ nhóm Môn – Khmer. Đây là vùng đất của tổ tiên người Stiêng và một số dân tộc khác như Mạ, Mnông và nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên [1, 10-13].
Từ khoảng thế kỉ II đến thế kỉ III, tộc người Stiêng phát triển mạnh, khu vực cư trú ngày càng được mở rộng ở vùng Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Sau thế kỉ X, người Stiêng đã trở thành một tộc người hùng mạnh. Một số 15 tài liệu đã nhắc đến một “Vương quốc Stiêng”, “Vương quốc Mạ”…cho thấy sự phát triển hùng mạnh của các tộc người ở đây nhưng có lẽ đó chưa phải là một quốc gia theo đầy đủ ý nghĩa của nó [1, 48-49]. Theo những phần ghi chép trong sách địa lí, lịch sử thời Nguyễn và một vài công trình khảo sát của người Pháp ghi lại thì vùng cư trú của người Stiêng trước thế kỉ XIX khá rộng lớn, chiếm gần hết tỉnh Bình Phước, lan sang một phần tỉnh Tây Ninh hiện nay.
Đây cũng là khu vực tranh chấp giữa người Chăm và người Khmer trong nhiều thế kỉ. Về sau, một số nhóm người Khmer từ phía Tây và Tây Bắc đã chuyển cư vào vùng phía Tây tỉnh Bình Phước, đẩy lùi và thu hẹp địa bàn cư trú của người Stiêng. Một vài nhóm người Chăm trong cuộc tranh chấp với người Khmer cũng trụ lại phía Tây Nam, vùng giữa sông Sài Gòn và sông Bé, góp phần làm thu hẹp địa bàn cư trú của người Stiêng lui về phía Bắc. Đến cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, sự hiện diện của người Việt trong cuộc Nam tiến đã nhanh chóng đẩy người Stiêng rút khỏi các vùng cư trú dọc các chi lưu sông Sài Gòn và sông Bé, sông Đồng Nai.
Vào khoảng những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, công cuộc bình định và thành lập các đồn điền cao su của thực dân Pháp đã xua đuổi người Stiêng rời khỏi vùng đất đỏ phía Tây Bắc Thủ Dầu Một vào các thung lũng đất xám. Người Stiêng vốn là một nhóm người từ phía Bắc, di chuyển xuống phía Nam bán đảo Đông Dương, cùng thời với những đợt chuyển cư lớn ở Đông Nam Á lục địa. Người Stiêng có thể đã định cư ở miền Nam Tây Nguyên từ những thế kỉ trước công nguyên. Họ đã nhanh chóng thích ứng với điều kiện địa lí tự nhiên khu vực rừng mưa nhiệt đới Nam Tây Nguyên, đặc biệt là những cánh rừng mưa nhiệt đới ở vùng Phước Long và rừng savan, nơi thềm dốc của cao nguyên đổ xuống vùng Đông Nam bộ hiện nay.
Trong quá trình làm quen với vùng đất mới, hẳn đã diễn ra sự tiếp xúc với các tộc người láng 16 giềng, người Stiêng đã tiếp thu, học hỏi và xây dựng cho mình một diện mạo kinh tế - văn hóa - xã hội khá đặc sắc. Theo số liệu của Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước, tính đến ngày 01/01/2011, dân số người Stiêng ở tỉnh là 80. Stiêng Bù Lơ là nhóm người Stiêng sinh sống ở vùng núi cao, tập trung cư trú ở một số xã: Đăk Ơ, Đăk Nhau, Thọ Sơn, Thống Nhất của các huyện Bù Đăng, Đồng Phú và thị xã Phước Long. Stiêng Bù Dek ở vùng đất thấp, sống ở nhà sàn, biết sử dụng trâu bò kéo cày làm ruộng nước, tập trung ở thị xã Bình Long, Bù Đốp, Lộc Ninh, Chơn Thành.
Đồng bào dân tộc cư trú khắp các huyện trong tỉnh nhưng đông nhất là các huyện Bù Gia Mập 2, Hớn Quản 3, Bù Đăng, Lộc Ninh, thị xã Bình Long. Như vậy, có thể nói rằng, Bình Phước là địa bàn cư trú chủ yếu của người Stiêng, là “trung tâm” của văn hóa Stiêng ở Việt Nam, là vùng đất lưu giữ vốn văn học dân gian Stiêng đậm đà bản sắc dân tộc. Hoạt động kinh tế Canh tác nương rẫy, lúa nước Kinh tế nương rẫy là loại hình kinh tế truyền thống chủ yếu của người Stiêng. Sống trong điều kiện tự nhiên khá thuận lợi: đất đai màu mỡ, khí hậu nhiệt đới gió mùa, người Stiêng từ lâu đã biết đến việc canh tác lúa rẫy cũng như đã tích lũy cho mình khá nhiều kinh nghiệm gieo trồng.
Người Stiêng Bù Lơ và Bù Dek hiện nay vẫn duy trì việc canh tác lúa rẫy. Riêng người Stiêng Bù Dek đã biết đến kĩ thuật canh tác lúa nước. Người Stiêng gọi rẫy là mir. Để chọn đất làm rẫy, từ tháng mười hai âm lịch, họ đã bắt đầu đi rừng để tìm đất, ra dấu, khoanh vùng.
Việc chọn rẫy sẽ 2 Huyện mới của tỉnh Bình Phước, được tách ra từ huyện Phước Long 3 Huyện mới của tỉnh Bình Phước, được tách ra từ huyện Bình Long 17 do người đứng đầu trong làng (tom poh) bàn bạc với những người đứng đầu trong gia đình, dòng họ (mpoh) và phụ thuộc rất nhiều vào sự đồng ý hay không đồng ý của thần linh. Ngay đêm đầu tiên nằm ngủ trên mảnh đất sẽ chọn làm rẫy, nếu người Stiêng mơ thấy cây có trái, lúa có bông, có nhiều ong bay lượn…thì đó là điềm lành, báo hiệu sự đồng ý của thần linh, cho phép họ phát rẫy, dọn rẫy và canh tác tại mảnh đất này. Nếu họ mơ thấy lũ lụt, giông bão, trâu bò chết, trăn chết thì đó là điềm gở, báo hiệu sự phản đối của thần linh. Dù mảnh đất ấy có màu mỡ, có vị trí tốt đến cỡ nào thì họ cũng có thể bỏ đi.
Bởi theo người Stiêng, nếu bất chấp sự phản đối của thần linh thì họ chỉ chuốc lấy tai họa mà thôi. Ngay cả khi rẫy đã phát xong, đốt xong, nếu thấy con trăn chết trên rẫy thì họ cũng không làm vì họ cho rằng con trăn chết chính là điềm báo sẽ có xác người. Khi rẫy đã đốt và dọn xong (tháng ba âm lịch), đồng bào tiến hành tỉa bắp, lúa ngắn ngày, trồng cà, bầu, bí, mướp…để lấy ngắn nuôi dài. Đến tháng tư (âm lịch), đồng bào mới trồng những giống lúa dài ngày khác.
Một đám rẫy, đồng bào có thể trồng nhiều giống lúa và hoa màu khác nhau. Sau khi thu hoạch, họ không để lúa trên rẫy mà đem về nhà. Ở vùng Stiêng Bù Lơ, họ làm sạch và cất lúa trong các bồ đựng thóc ngay trên giàn bếp. Ở vùng Stiêng Bù Dek, họ cất lúa trong những kho nhỏ ở gần nhà ở.
Sau khi thu hoạch, họ nghỉ ngơi và tổ chức lễ hội “Lúa mới”. Kĩ thuật canh tác nương rẫy đơn giản, theo phương pháp “phát, đốt, chọc, trỉa” truyền thống. Ở vùng Stiêng Bù Dek, người Stiêng đã biết sử dụng các công cụ hiện đại trong việc canh tác lúa nước, sử dụng hệ thống thủy lợi và đưa vào gieo trồng các giống lúa mới cho năng suất cao, làm cho đời sống của đồng bào nơi đây được cải thiện. Săn bắt và hái lượm 18 Sống trong khu vực địa lí có nhiều thuận lợi nên hoạt động săn bắt và hái lượm của người Stiêng rất phát triển.
Hoạt động này chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người Stiêng. “Hoạt động săn bắt của người Stiêng đạt đến đỉnh cao với việc chế tác các loại nỏ, mang cung4, bẫy lớn nhỏ và các phương tiện săn bắt cá nhân, tập thể” [1, 89].