Chương I: Khái quát về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; Chương II: Tín ngưỡng – tôn giáo của người Khmer vùng ĐBSCL ; Chương III: Lễ hội người Khmer vùng ĐBSCL ; Chương IV: Phong tục tập quán của người Khmer vùng ĐBSCL ; Chương V: Văn học Khmer vùng ĐBSCL ; Chương VI: Nghệ thuật âm nhạc và biểu diễn của người Khmer vùng ĐBSCL ; Chương VII: Nghệ thuật tạo hình của người Khmer vùng ĐBSCL. Qua “Giao lưu và phát triển văn hóa giữa các dân tộc Việt - Khmer - Hoa ở ĐBSCL hiện nay” (Luận văn thạc sĩ văn hóa học. Đại học Văn hóa Hà Nội, 2003) Nguyễn Duy Tiến đã khảo sát thực trạng giao lưu và phát triển văn hóa các dân tộc Việt - Khmer - Hoa ở ĐBSCL trong thời gian từ năm 1986 đến 2003, cùng phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của giao lưu văn hóa giữa các dân tộc. Trần Văn Bính đã trình bày một cách chi tiết về đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer trong “Văn hóa các dân tộc ĐBSCL thực trạng và những vấn đề đặt ra” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004).
Qua đó cho thấy được thực trạng đời sống văn hóa của các tộc người Chăm, Hoa, Khmer ở ĐBSCL. Nguyễn Phương Thảo trong “Văn hóa dân gian Nam bộ - những phác thảo” (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2008) đã đề cập đến đời sống xã hội, lễ hội, tín ngưỡng,… của người Khmer. Qua đó cho thấy được sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc ở Nam Bộ. Những số liệu thống kê về dân số, về ngôi chùa Khmer ở Nam Bộ,… là những thông tin mang tính cập nhật, cần thiết cho nghiên cứu của chúng tôi.
Năm 2012, Vương Hoàng Trù và Phú Văn Hẳn đã cho ra đời tác phẩm “Một số vấn đề về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ trong phát triển” (Nxb Khoa học Xã hội, 10 luan an 2012). Tác phẩm đã trình bày các khía cạnh văn hóa, kinh tế, xã hội của các dân tộc vùng ĐBSCL ; những vấn đề cần quan tâm trong việc phát huy và gìn giữ bản sắc văn hóa của các dân tộc ở Nam Bộ. Trong “Phong tục, lễ nghi và tranh ký tự dân tộc Khmer Nam Bộ”, (Nxb Văn hóa dân tộc, 2012), tác giả Sang Sết đã trình bày về phong tục thờ cúng và những lễ nghi của người Khmer ở Nam Bộ. Giới thiệu một số hình ảnh về văn hoá, tranh ký tự, tranh vẽ, tranh khắc đá của người Khmer Nam Bộ.
Phan Trung Nghĩa là một tác giả có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu vốn văn hóa ĐBSCL. Trong đó đáng chú ý là tập bài viết “Bạc Liêu trong mắt tôi” (2012). Qua tìm hiểu lịch sử và những trải nghiệm từ thực tiễn, tác giả đã cung cấp cho chúng tôi vốn tri thức về quá trình khẩn hoang của vùng đất Bạc Liêu, trong đó có quá trình người Kinh, Khmer, Hoa hội tụ về vùng đất này, cùng sản xuất, chế biến nông, thủy, hải sản. Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa, những kinh nghiệm làm ăn khác nhau.
Trong quá trình cùng sinh sống, văn hóa các dân tộc đã có sự giao lưu, tiếp biến trong sự thống nhất và đa dạng. Chúng tôi cũng đã tham khảo tác phẩm “Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng” (Nxb Văn hóa Dân tộc. 2011) của tác giả Võ Thành Hùng. Với 428 trang sách chứa rất nhiều tư liệu quý về văn hóa nghi lễ vòng đời người Khmer, tác giả đã chia thành 3 chương, với kết cấu chặt chẽ, hợp lí, cộng thêm phần phụ lục hấp dẫn về các nghi thức, bài cúng.
“Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng” giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể mà không kém phần sinh động về cái mà con người ở mọi thời đại luôn luôn băn khoăn: Sự sống và cái chết trong chu kì của một đời người với những nghi thức độc đáo, hấp dẫn với những sắc thái đặc thù của tộc người Khmer. Trong “Hôn nhân và gia đình của người Khmer Nam Bộ” Nguyễn Hùng Khu (2012) đã biên soạn 3 chương. Tác giả đã giới thiệu khái quát về vị trí địa lý, con người, phong tục tập quán, sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người; đồng thời giới thiệu khái quát về người Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long với những nét văn hóa đặc trưng riêng, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, tác giả cũng đi sâu tìm hiểu phong tục cưới hỏi của người Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long; hôn nhân truyền thống của người Khmer, phân tích những biến đổi trong hôn nhân của người Khmer xưa và nay.
Sau cùng, tác giả giới thiệu về gia đình truyền thống của 11 luan an người Khmer, phân tích những biến đổi của gia đình người Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Trong tác phẩm “Vài nét về văn hoá dân gian của người Khmer” (Nxb Văn hóa Thông tin, 2014) Nguyễn Anh Động đã sưu tầm, biên soạn một số nét về sinh hoạt văn hóa trong dân gian xưa và nay của người Khmer như tập tục vào năm mới, tập tục xuống mùa, tục xá tội vong nhân, tục đua ghe ngo.; vấn đề quỷ thần, pháp sư, bùa phép; ngôn ngữ văn thơ; nghệ thuật diễn xướng. Năm 2014, luận văn “Lễ cưới của người Khmer Sóc Trăng” của Sơn Lương (Đại học Trà Vinh) là một tài liệu quý hỗ trợ tích cực cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. “Diện mạo văn học dân gian Khơ me Sóc Trăng” (Nxb Khoa học Xã hội, 2015) của tác giả Trần Minh Thương đã giới thiệu văn học dân gian Khơ me tỉnh Sóc Trăng đã cung cấp các khái niệm và phân loại truyện cổ dân gian, thơ ca, câu đố và nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Khơ me Sóc Trăng.
Tuy vậy, tác phẩm chủ yếu nghiên về văn học. Qua tác phẩm “Lễ hội Ok Om Bok,” các tác giả Nghiêm Quốc Thanh, Thanh Lê (Nxb Kim Đồng, 2015) đã giới thiệu lễ hội Ok Om Bok qua cái nhìn của một thiếu nhi. Truyện kể rằng, cuối tuần, Bo được ba mẹ đưa về thăm ngoại. Nhà ngoại Bo nằm trong phum người Khmer sinh sống, nên cậu có dịp tham dự lễ hội Ok Om Bok lúc vụ mùa vừa kết thúc.
Ngoài cốm đẹp, trầu, cau là những món không thể thiếu, thì các loại nông sản như khoai, sắn, chuối, dừa, bánh kẹo.sẽ làm phong phú mâm lễ dâng cúng thần Mặt Trăng. Bo vô cùng thích thú khi được xem và chơi các trò chơi dân gian như thả đèn gió, thả đèn nước, đua ghe ngo, kéo co. Trong tác phẩm “Lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ” (Nxb Khoa học Xã hội, 2015) các tác giả Tiền Văn Triệu, Lâm Quang Vinh đã khái quát về văn hóa của người Khmer Nam Bộ qua các lễ hội truyền thống như: lễ hội Ok - Oom - Bok, lễ Sel Đol ta, lễ vào năm mới, lễ hội Phước biển, lễ cúng Neak Tà xưa và nay. Tác phẩm “Văn hóa dân gian phi vật thể của người Khơ Me ở Sóc Trăng”, (Nxb Mỹ thuật, 2016) của Trần Minh Thương cũng đã khái quát về văn hóa dân gian phi vật thể, tình hình nghiên cứu, đặc điểm cơ bản của người Khơ Me ở Sóc Trăng.
Tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn hóa nghệ thuật, diễn xướng, điêu khắc, hội họa, trò chơi dân gian của người Khmer ở Sóc Trăng. 12 luan an Trên đây là những công trình tiêu biểu liên quan đến văn hóa các dân tộc ở Nam Bộ nói chung, văn hóa Khmer Nam Bộ nói riêng. Cho đến nay, có thể nói việc nghiên cứu về văn hóa ĐBSCL, về các dân tộc ở ĐBSCL đang rất được quan tâm.Những công trình nghiên cứu, sưu tầm dân ca Nam Bộ Trước năm 1975, vì miền Nam vừa là vùng đất mới, lại phải trải qua chiến tranh nên không thuận lợi để nghiên cứu các thể loại văn nghệ dân gian trong đó có văn nghệ dân gian của người Khmer. Sớm nhất phải kể đến tuyển tập “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan xuất bản lần đầu năm 1956.
Tuy có một số bài dân ca mà tác giả gọi là “dân ca em”, nhưng tác phẩm chủ yếu chỉ giới thiệu dân ca người Việt. Và sau nhiều lần tái bản, tác phẩm vẫn chưa được bổ sung, xác định cụ thể những bài dân ca nào là dân ca Nam Bộ và dân ca người Khmer. Sau 1975, có nhiều công trình nghiên cứu khá tiêu biểu như: Các công trình sưu tầm dân ca do đoàn sưu tầm điền dã Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa, Lê Anh Trung, nghệ sĩ ưu tú Bích Hường, Thạch An, Minh Luân cùng thực hiện, như: “Dân ca Bến Tre” (1981, tái bản 2000); “Dân ca Kiên Giang” (1985); “Dân ca Cửu Long” (1986); “Dân ca Hậu Giang” (1986); “Dân ca Đồng Tháp” (1995); “Dân ca Long An” (2003); “Dân ca Trà Vinh” (2004);. Nhóm công trình về dân ca Nam Bộ này là tài liệu tham khảo rất cần thiết cho nghiên cứu của chúng tôi.
Tuy vậy, dân ca Khmer chưa được quan tâm đúng mức trong các công trình này. Chuyên khảo “Tìm hiểu dân ca Nam bộ” do Lư Nhất Vũ, Lê Giang chủ biên xuất bản năm 1983 cũng là một chuyên khảo quy mô. Đây là công trình sưu tầm, ký âm và giới thiệu nhiều thể loại dân ca Nam Bộ như: hò, lý, hát đưa em, hát huê tình, hát sắc bùa, đồng dao, nói thơ, nói vè. Tuy nhiên, công trình trên 500 trang này cũng chỉ đề cập đến dân ca của người Việt, chỉ dành khoảng 03 trang nói về quan hệ giao lưu giữa dân ca người Việt với dân ca Khmer thông qua các điệu lý.
Và dân ca của người Khmer cũng không được nhắc đến. Trong năm 1984, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh xuất bản công trình nghiên cứu “Ca dao dân ca Nam Bộ” do nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị sưu tầm, giới thiệu. Công trình này giới thiệu 2.800 bài ca dao dân ca, chia làm hai phần: Tiểu luận giới thiệu các bài viết về con người, vùng đất Nam Bộ; Sưu tập ca dao, dân ca. Đóng 13 luan an góp quan trọng của tài liệu này là đã phác họa được đôi nét về đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao, dân ca Nam Bộ.
Tuy nhiên, công trình này cũng hoàn toàn bỏ quên mảng ca dao, dân ca Khmer Nam Bộ mà chủ yếu chỉ đề cập, nghiên cứu giá trị nội dung, nghệ thuật ca dao, dân ca của người Việt vùng Nam Bộ.