Tổng quan luận án
Đề tài "Dân ca trong đời sống văn hóa của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Văn Hữu dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Lê Chí Quế, thuộc chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) tại Trường Đại học Trà Vinh vào năm 2020. Luận án giải quyết vấn đề bảo tồn và làm rõ vai trò, giá trị của dân ca Khmer trong bối cảnh quá trình hiện đại hóa và biến đổi xã hội tại khu vực Tây Nam Bộ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân ca Khmer Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là di sản văn hóa phi vật thể phản ánh đời sống tâm linh, phong tục tập quán và hoạt động lao động nông nghiệp lâu đời của cộng đồng. Tuy nhiên, trước sức ép của đời sống hiện đại và sự thay đổi phương thức sinh hoạt, các loại hình dân ca truyền thống như hát ru, dân ca nghi lễ đám cưới, đám tang, đồng dao và hát đối đáp nam nữ có xu hướng phai nhạt và mai một dần. Xu thế đề cao giá trị vật chất tạo ra nguy cơ làm mất cân bằng tâm lý cộng đồng và suy giảm các giá trị văn hóa tộc người.
Chủ trương bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể được luật hóa và quy định trong các văn bản pháp quy của Nhà nước:
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (Luật số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009), đặc biệt tại Điều 17 về các biện pháp nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại, truyền dạy và phục dựng di sản văn hóa phi vật thể.
- Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012–2015.
- Các quyết định liên quan đến xây dựng nông thôn mới: Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016; Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016–2020; Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016–2020; Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 15/12/2016 của Ban Bí thư về cuộc vận động xây dựng nông thôn mới.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây đa phần chỉ tiếp cận văn nghệ dân gian Khmer ở góc độ văn học tự sự, miêu tả lịch sử - phong tục đơn thuần, hoặc ghi chép thuần túy về âm nhạc học mà chưa có công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về ca từ gắn liền với nghệ thuật diễn xướng trong hai không gian văn hóa cơ bản: không gian văn hóa gia đình và không gian văn hóa cộng đồng.
Kết quả điều tra điền dã của luận án về vai trò của dân ca trong đời sống người Khmer ghi nhận các tỷ lệ nhận thức từ cộng đồng như sau:
| Ý kiến đánh giá vai trò của dân ca |
Tỷ lệ đồng thuận |
| Dân ca minh họa, phục vụ cho những nghi thức lễ hội |
55% |
| Dân ca giúp nghi lễ bộc lộ được hết giá trị, ý nghĩa |
42% |
| Hiện thực hóa nghi lễ và giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các thế hệ |
35% |
| Dân ca phản ánh tư tưởng, tình cảm trong mối quan hệ với tự nhiên |
33% |
| Phản ánh cuộc sống mang đậm màu sắc nông nghiệp của người Khmer |
28% |
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hệ thống mục tiêu bao gồm mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu tổng quát: Hệ thống và làm rõ vai trò, đặc điểm, giá trị của dân ca Khmer trong đời sống văn hóa tộc người; qua đó đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp khả thi phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa ở ĐBSCL.
- Mục tiêu cụ thể:
- Sưu tầm và lưu trữ các tư liệu dân ca trong hát ru, lễ cưới, lễ tang, đồng dao và hát đối đáp nam nữ; đóng góp thêm nguồn tư liệu dân ca Khmer sưu tầm tại ĐBSCL.
- Nghiên cứu vai trò, vị trí của dân ca trong đời sống văn hóa người Khmer ĐBSCL nhìn từ góc độ ngôn từ.
- Nghiên cứu vai trò, vị trí của dân ca trong đời sống văn hóa người Khmer ĐBSCL nhìn từ góc độ diễn xướng.
- Đề xuất, kiến nghị đến các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca Khmer ĐBSCL.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu được đánh số thứ tự:
- Câu hỏi 1: Tình hình nghiên cứu dân ca Khmer từ xưa đến nay đã đạt được những thành tựu gì? Những vấn đề gì cần tiếp tục nghiên cứu? Nghiên cứu dân ca Khmer trong đời sống văn hóa cần vận dụng những lý thuyết gì?
- Câu hỏi 2: Dân ca có những vai trò, đặc điểm, giá trị văn hóa gì trong đời sống văn hóa gia đình của người Khmer?
- Câu hỏi 3: Dân ca có những vai trò, đặc điểm, giá trị văn hóa gì trong đời sống văn hóa cộng đồng của người Khmer?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dân ca Khmer và tác động của loại hình này trong đời sống văn hóa của người Khmer ĐBSCL, tập trung vào năm thể loại: hát ru, dân ca trong lễ cưới, dân ca trong lễ tang, đồng dao và hát đối đáp nam nữ.
- Đối tượng khảo sát: Người Khmer thuộc các thành phần nghề nghiệp và lứa tuổi khác nhau gồm nông dân, diễn viên, giáo viên, học sinh, sinh viên, công chức, tu sĩ, người làm nội trợ và buôn bán.
- Phạm vi không gian: Điền dã sưu tầm và khảo tả tại sáu tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ.
- Phạm vi nội dung và giải pháp: Giới hạn trong năm thể loại diễn xướng dân ca tiêu biểu; các kiến nghị và giải pháp dừng lại ở phương hướng mang tính nguyên tắc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa ba nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài:
Nhóm công trình nghiên cứu văn hóa dân gian Khmer
Nguồn tư liệu địa chí và văn hóa chung được ghi nhận từ "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức (Viện Sử học dịch, 1998) ghi chép về phong tục, tập quán cư dân Nam Bộ. Các bút ký của Sơn Nam khảo tả địa bàn Kiên Giang, Cà Mau. Lê Anh Trà trong "Mấy đặc điểm văn hóa ĐBSCL" (1984) nghiên cứu nếp sống tập quán các dân tộc. Huỳnh Lứa trong "Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ" (1987) khảo tả lịch sử khai hoang. Huỳnh Ngọc Trảng, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc công bố "Người Khơ-Me tỉnh Cửu Long" (1987). Ty Văn hóa Thông tin Hậu Giang xuất bản "Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ" (1988).
Các công trình nghiên cứu xã hội và nhân học tiếp tục phát triển: Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường với "Văn hóa và cư dân ĐBSCL" (1990); Mạc Đường với "Vấn đề dân tộc ở ĐBSCL" (1991); Trường Lưu chủ biên hai công trình "Văn hóa người Khmer vùng ĐBSCL" (1993) và "Bản sắc văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ" (2001); Nguyễn Đăng Duy với "Văn hóa tâm linh Nam Bộ" (1997); Nguyễn Khắc Cảnh với "Loại hình công xã của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long" (1997) và "Phum Sóc Khmer ở ĐBSCL" (1998); Trần Văn Bổn với "Một số lễ tục dân gian người Khmer ĐBSCL" (1999); Nguyễn Duy Tiến với luận văn "Giao lưu và phát triển văn hóa giữa các dân tộc Việt - Khmer - Hoa ở ĐBSCL hiện nay" (2003); Trần Văn Bính với "Văn hóa các dân tộc ĐBSCL thực trạng và những vấn đề đặt ra" (2004); Nguyễn Phương Thảo với "Văn hóa dân gian Nam bộ - những phác thảo" (2008).
Các công trình chuyên khảo giai đoạn sau gồm có: Võ Thành Hùng với "Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng" (2011); Vương Hoàng Trù và Phú Văn Hẳn với "Một số vấn đề về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ trong phát triển" (2012); Sang Sết với "Phong tục, lễ nghi và tranh ký tự dân tộc Khmer Nam Bộ" (2012); Phan Trung Nghĩa với "Bạc Liêu trong mắt tôi" (2012); Nguyễn Hùng Khu với "Hôn nhân và gia đình của người Khmer Nam Bộ" (2012); Nguyễn Anh Động với "Vài nét về văn hoá dân gian của người Khmer" (2014); Sơn Lương với luận văn "Lễ cưới của người Khmer Sóc Trăng" (2014); Trần Minh Thương với "Diện mạo văn học dân gian Khơ me Sóc Trăng" (2015) và "Văn hóa dân gian phi vật thể của người Khơ Me ở Sóc Trăng" (2016); Nghiêm Quốc Thanh và Thanh Lê với "Lễ hội Ok Om Bok" (2015); Tiền Văn Triệu và Lâm Quang Vinh với "Lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ" (2015).
Nhóm công trình nghiên cứu, sưu tầm dân ca Nam Bộ
Vũ Ngọc Phan với tuyển tập "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam" (1956) chủ yếu tập trung dân ca người Việt. Sau năm 1975, đoàn sưu tầm của Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa, Lê Anh Trung, Bích Hường, Thạch An, Minh Luân đã xuất bản hàng loạt tuyển tập: "Dân ca Bến Tre" (1981, 2000), "Dân ca Kiên Giang" (1985), "Dân ca Cửu Long" (1986), "Dân ca Hậu Giang" (1986), "Dân ca Đồng Tháp" (1995), "Dân ca Long An" (2003), "Dân ca Trà Vinh" (2004). Chuyên khảo "Tìm hiểu dân ca Nam bộ" (1983) của Lư Nhất Vũ và Lê Giang giới thiệu các thể loại hò, lý, hát đưa em, hát huê tình... nhưng chỉ dành 03 trang bàn về giao lưu với dân ca Khmer. Bộ sưu tập "Hát ru Việt Nam" (2005) của Lư Nhất Vũ và Lê Giang giới thiệu 152 bài hát ru, trong đó có 14 bài của người Khmer ĐBSCL.
Các công trình sưu tập và nghiên cứu khác bao gồm: "Ca dao dân ca Nam Bộ" của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984) với 2.800 bài; "Ca dao Đồng Tháp Mười" của Đỗ Văn Tân (1984); "Tổng tập văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam" của Đặng Nghiêm Vạn (1996); "Kiên Giang qua ca dao" của Giang Minh Đoán (1997); "Ca dao - Dân ca Nam kỳ lục tỉnh" của Huỳnh Ngọc Trảng (1998); "Văn hóa dân gian làng ĐBSCL" của Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian (2000); "Tinh tuyển văn nghệ các dân tộc thiểu số" của Nông Quốc Chấn (2004); "Chuyên khảo thơ ca dân gian Trà Vinh" (2012).
Các nghiên cứu ngôn ngữ, thi pháp và biểu tượng văn học dân gian gồm: Lê Ngọc Trinh (1992), Trần Thị Diễm Thúy (1997), Bùi Thị Tâm (1998), Nguyễn Văn Nở (2000), Lê Thị Thu Thủy (2002), Huỳnh Thị Kim Liên (2006), Nguyễn Thị Na (2008), Trần Đức Hùng (2008), Trần Văn Nam (2010), Đặng Thị Thuỳ Dương, Nguyễn Thị Thanh Hằng (2011).
Nhóm công trình nghiên cứu, sưu tầm dân ca Khmer
Tài liệu trước năm 1975 gắn với các học giả người Pháp như Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, Georges Maspero; Lê Hương với tác phẩm "Người Việt gốc Miên" (1969) trích dẫn 07 bài ca dao Khmer. Lê Trung Vũ có bài viết "Các dạng tồn tại có thể quan sát được của dân ca Khmer Nam Bộ". Đinh Gia Khánh chủ biên "Văn nghệ dân gian Việt Nam" (2001) đề cập văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số. Thạch Voi xuất bản "Bản sắc văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ" (2001). Nguyễn Mạnh Cường công bố "Vài nét về người Khmer Nam bộ" (2002).
Năm 2004, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hoa xuất bản "100 làn điệu dân ca Khmer" (tập 1 và tập 2) có ký âm, phiên âm và dịch nghĩa. Phạm Tiết Khánh nghiên cứu "Diện mạo dân ca Khmer Nam Bộ" (2007). Lý Minh Trâm thực hiện luận văn "Dân ca trong lễ hội của người Khmer Sóc Trăng" (2010). Hoàng Túc xuất bản "Diễn ca Khmer Nam Bộ" (2011). Chu Xuân Diên chủ biên "Văn học dân gian Sóc Trăng" (2012) tập hợp hơn 30 bài dân ca Khmer nhưng chỉ có bản dịch tiếng Việt, chưa có nguyên bản tiếng Khmer. Thạch Chanh Đa nghiên cứu "Sự phản ánh phong tục cưới hỏi trong Tục ngữ, Ca dao – Dân ca Khmer Nam Bộ" (2014). Nguyễn Thị Trúc Phương khảo sát "Dân ca trong đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer Trà Vinh" (2014). Trần Thanh Hiên thực hiện "Nghiên cứu ca dao Khmer Nam Bộ" (2014). Sơn Ngọc Hoàng bảo vệ luận án tiến sĩ "Âm nhạc nghi lễ dân gian trong văn hóa của người Khmer ở Sóc Trăng" (2016).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả xác định phần lớn các tài liệu đã công bố chỉ dừng lại ở việc giới thiệu lời ca thuần túy dưới dạng bản dịch tiếng Việt, hoặc chỉ phân tích phương diện âm nhạc học mà tách rời không gian diễn xướng và chức năng văn hóa - xã hội. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách sưu tầm nguyên tác lời ca tiếng Khmer kèm bản dịch, đặt dân ca vào đúng bối cảnh thực hành văn hóa (gia đình và cộng đồng) và phân tích đồng thời hai cấu phần: ngôn từ nghệ thuật và cấu trúc diễn xướng dân gian.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung lý thuyết sử dụng
- Khái niệm dân ca: Luận án tiếp thu định nghĩa của Đặng Nghiêm Vạn (1969), xác định dân ca là những bài hát ngâm hoặc kể bằng văn vần, tồn tại độc lập hoặc kết hợp với nhạc, điệu múa, trò chơi, do cá nhân hoặc tập thể thực hiện. Về phân loại, luận án vận dụng quan điểm của Lê Chí Quế (1990) chia dân ca thành ba loại: dân ca lao động, dân ca nghi lễ - phong tục và dân ca sinh hoạt. Đồng thời, tác giả kết hợp cách phân chia theo môi trường diễn xướng của Mai Mỹ Duyên để khảo sát dân ca theo hai không gian: không gian gia đình và không gian cộng đồng.
- Khái niệm diễn xướng: Luận án tổng hợp quan điểm của Hoàng Phê (2001), Nguyễn Hữu Thu (1977), Tuấn Giang (2006), Lê Trung Vũ (1984), Chu Xuân Diên (1981), Tô Ngọc Thanh (2007) và Richard Bauman ("Nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một nghệ thuật diễn xướng"). Diễn xướng dân ca được định nghĩa là hình thức thể hiện các sáng tác dân gian bằng ca từ, giai điệu, âm thanh và điệu bộ cử chỉ trong các bối cảnh sinh hoạt văn hóa cụ thể.
- Lý thuyết Vùng văn hóa và văn hóa vùng: Luận án kế thừa quan điểm của Friedrich Ratzel, Alfred Kroeber, Ngô Đức Thịnh, Huỳnh Khái Vinh, Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm. Vùng văn hóa ĐBSCL được xác lập trên nền tảng địa lý sinh thái sông nước, kênh rạch và quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa giữa người Việt, Khmer, Hoa, Chăm.
- Lý thuyết Tính nguyên hợp về phương diện chức năng của Folklore: Luận án xem xét dân ca Khmer như một chỉnh thể nguyên hợp tự nhiên giữa lời ca, giai điệu âm nhạc, động tác diễn múa và chức năng nghi lễ, phong tục xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức của văn hóa học, dân tộc học, xã hội học và âm nhạc học để phân tích đa chiều hiện tượng dân ca.
- Phương pháp sưu tầm, điền dã: Thu thập tư liệu văn bản và thực hiện điền dã tại các phum, sóc Khmer để ghi âm, ghi hình, ký âm lời ca và quan sát thực địa.
- Phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích: So sánh văn bản sưu tầm với tư liệu đã công bố; phân tích mối quan hệ giữa ca từ và diễn xướng.
- Phương pháp khảo tả: Khảo sát và mô tả chi tiết các yếu tố liên quan đến ca từ, thang âm và quy trình diễn xướng trong các nghi lễ, trò chơi.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nghệ nhân, nhà nghiên cứu ngôn ngữ Khmer, âm nhạc và văn học dân gian.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng bảng biểu thống kê dữ liệu dân số, mẫu khảo sát và tỷ lệ phản hồi của cộng đồng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu thực địa do tác giả trực tiếp sưu tầm gồm 90 bài dân ca Khmer thuộc năm thể loại:
| Thể loại dân ca Khmer sưu tầm |
Số lượng bài |
| Hát ru |
35 |
| Dân ca trong lễ cưới |
14 |
| Dân ca trong lễ tang |
25 |
| Đồng dao |
7 |
| Hát đối đáp nam nữ |
9 |
| Tổng cộng |
90 |
Cơ sở dữ liệu dân số người Khmer được tác giả trích dẫn từ nguồn dữ liệu của Ủy ban Dân tộc tính đến năm 2019:
| STT |
Tên tỉnh/thành phố |
Số lượng người Khmer |
Tỷ lệ và ghi chú |
| 1 |
Sóc Trăng |
397.014 người |
Chiếm 30,7% dân số toàn tỉnh; 31,5% tổng số người Khmer tại Việt Nam |
| 2 |
Trà Vinh |
317.203 người |
Chiếm 31,6% dân số toàn tỉnh; 25,2% tổng số người Khmer tại Việt Nam |
| 3 |
Kiên Giang |
210.899 người |
Chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh; 16,7% tổng số người Khmer tại Việt Nam |
| 4 |
An Giang |
90.271 người |
— |
| 5 |
Bạc Liêu |
70.667 người |
— |
| 6 |
Cà Mau |
29.845 người |
— |
| 7 |
TP. Hồ Chí Minh |
24.268 người |
— |
| 8 |
Vĩnh Long |
21.820 người |
— |
| 9 |
TP. Cần Thơ |
21.414 người |
— |
| 10 |
Hậu Giang |
21.169 người |
— |
| 11 |
Bình Phước |
15.578 người |
— |
| 12 |
Bình Dương |
15.435 người |
— |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian, dân ca Nam Bộ và dân ca Khmer trước và sau năm 1975. Luận án phân tích bối cảnh tự nhiên, lịch sử, văn hóa - xã hội của vùng ĐBSCL và đặc trưng tộc người Khmer.
Các đặc điểm văn hóa tộc người Khmer được tổng kết gồm có:
- Hình thái cư trú: Cư trú trên đất giồng, đất ruộng, dọc kênh mương và trục lộ giao thông; tổ chức xã hội theo đơn vị phum và sóc, lấy ngôi chùa Phật giáo Nam tông làm trung tâm sinh hoạt tôn giáo, văn hóa và giáo dục.
- Hoạt động kinh tế: Trồng lúa nước (canh tác đất giồng, đất phèn), làm rẫy, đánh bắt thủy sản và các nghề thủ công truyền thống (đan lát, làm gốm, làm đường thốt nốt, nhuộm vải mặc nưa).
- Đặc trưng đời sống vật chất và tinh thần: Nhà đất chiếm khoảng 85% (theo khảo sát của Phan Thị Yến Tuyết), nhà sàn chỉ còn ở vùng ngập lũ; trang phục truyền thống gồm xàm pốt, khăn rằn; ẩm thực đặc trưng với mắm prahóc và nước thốt nốt; hệ thống lễ hội phong phú gồm lễ hội dân gian (Chol Chnam Thmay, Sen Dolta, Ok Om Bok) và đại lễ Phật giáo Nam tông (Vesakhapũjã, Maghapũjã, Kathina, Vu Lan).
Chương này xác lập khung lý thuyết về vùng văn hóa và tính nguyên hợp của Folklore, làm tiền đề lý luận cho việc phân tích các thể loại dân ca ở các chương sau.
CHƯƠNG 2: DÂN CA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chương 2 tập trung khảo sát các thể loại dân ca gắn liền với đời sống gia đình và các nghi lễ vòng đời:
- Hát ru: Khảo sát 35 bài hát ru sưu tầm thực địa. Phân tích diễn xướng hát ru qua các bài tiêu biểu như Bompê kôn (ru con), Bompê chao (ru cháu), cấu trúc giai điệu dựa trên hệ thống thang 5 âm (ngũ cung) truyền thống. Chủ thể diễn xướng chủ yếu là người mẹ, người bà; không gian diễn xướng là gia đình bên cánh võng, mang chức năng vỗ về giấc ngủ và nuôi dưỡng tâm hồn, giáo dục đạo lý cho trẻ nhỏ.
- Dân ca trong lễ cưới truyền thống (ពិធីរៀបអាពាហ៍ពិពាហ៍តាមបែបប្រពៃណី): Khảo sát 14 bài dân ca thực hành trong lễ cưới. Diễn xướng dân ca cưới gắn chặt với từng nghi thức tuần tự của hôn lễ truyền thống (như lễ cắt tóc, lễ mở rào, lễ vào phòng cô dâu). Luận án phân tích vai trò của nhạc lễ dân gian, các bài ca mang tính chúc phúc, giao ước lứa đôi và thống kê các yếu tố thay đổi trong diễn xướng đám cưới dưới tác động của lối sống hiện đại.
- Dân ca trong lễ tang truyền thống (ពិធីរៀបពិធីបុណ្យសព): Khảo sát 25 bài dân ca trong lễ tang. Diễn xướng trong lễ tang mang tính chất nghi lễ - phong tục thiêng liêng, thể hiện lòng thương tiếc đối với người quá cố, khuyên răn con cháu về luật nhân quả, công ơn cha mẹ và quan niệm vô thường của Phật giáo Nam tông. Luận án thống kê các làn điệu, phân tích sự biến đổi của diễn xướng đám tang và lý do tìm hiểu, duy trì thể loại này trong cộng đồng.
CHƯƠNG 3: DÂN CA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chương 3 khảo cứu các thể loại dân ca diễn ra trong không gian sinh hoạt tập thể và giao tiếp xã hội:
- Đồng dao: Khảo sát 07 bài đồng dao sưu tầm được, tiêu biểu như Xarikakeo, A lê và các bài gắn với trò chơi dân gian (như trò chơi bắt con diều). Diễn xướng đồng dao phản ánh tư duy hồn nhiên của trẻ em, gắn liền với các trò chơi vận động tập thể ngoài trời, mô phỏng thế giới tự nhiên và lao động sản xuất. Luận án khảo sát các biến đổi về môi trường diễn xướng đồng dao khi trẻ em chuyển sang các hình thức giải trí hiện đại.
- Hát đối đáp nam nữ (ជួបបុរសនិងស្ត្រីច្រៀង): Khảo sát 09 bài hát đối đáp, tiêu biểu như làn điệu Xarai nưm nuôn. Phân tích hình thức diễn xướng đối đáp giao duyên giữa các nhóm nam nữ thanh niên trong các dịp lễ hội, mùa vụ hoặc sinh hoạt xóm giềng. Lời ca thể hiện tâm tư tình cảm, thử tài đối đáp, thể hiện ước vọng lứa đôi và ứng xử văn hóa trong cộng đồng phum sóc.
- Yếu tố chi phối bảo tồn: Tổng kết các nhân tố tác động đến sự tồn tại, biến đổi của dân ca cộng đồng và phân tích bối cảnh tiếp xúc văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và lý thuyết nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học về vai trò, đặc điểm và giá trị của dân ca Khmer trong đời sống văn hóa tộc người.
- Làm rõ mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn từ văn học dân gian và nghệ thuật diễn xướng nguyên hợp trong bối cảnh không gian văn hóa gia đình và cộng đồng phum sóc.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Bổ sung nguồn tư liệu điền dã thực tế gồm 90 bài dân ca Khmer thuộc năm thể loại (hát ru, cưới, tang, đồng dao, đối đáp), có ghi chép nguyên văn tiếng Khmer, bản dịch nghĩa tiếng Việt và khảo tả bối cảnh diễn xướng.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu văn hóa dân gian và bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số tại vùng ĐBSCL.
- Làm rõ vai trò thực tế của dân ca trong việc cố kết cộng đồng, giáo dục đạo đức truyền thống và duy trì bản sắc văn hóa tộc người Khmer.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các cấp chính quyền và cơ quan quản lý văn hóa xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Khmer gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa và phong trào xây dựng nông thôn mới.
- Tăng cường công tác kiểm kê, số hóa, truyền dạy dân ca Khmer tại các phum sóc và lồng ghép giáo dục di sản vào hệ thống trường học, trường dân tộc nội trú và các lớp học chữ Khmer tại chùa Phật giáo Nam tông.
- Tạo điều kiện hỗ trợ các nghệ nhân dân gian truyền dạy các làn điệu hát ru, nghi lễ cưới, tang và đồng dao cho thế hệ trẻ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát năm thể loại dân ca tiêu biểu (hát ru, dân ca cưới, dân ca tang, đồng dao, hát đối đáp) trên địa bàn sáu tỉnh, thành phố; chưa bao quát toàn bộ các tiểu loại dân ca lao động chuyên biệt khác cũng như toàn bộ địa bàn cư trú của người Khmer ở Nam Bộ. Các giải pháp đề xuất dừng lại ở phương hướng mang tính nguyên tắc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu điền dã sưu tầm các thể loại dân ca lao động, các bài hát nghi lễ nông nghiệp và sinh hoạt tín ngưỡng khác; đi sâu phân tích đối sánh thang âm, cấu trúc âm nhạc dân tộc học chi tiết giữa các vùng phụ cận.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Văn học dân gian và Âm nhạc dân tộc học có thể khai thác hệ thống tư liệu 90 bài dân ca Khmer nguyên tác kèm bản dịch và khung lý thuyết tiếp cận diễn xướng.
- Nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cán bộ ngành văn hóa - thông tin tại các tỉnh ĐBSCL có căn cứ thực tiễn để xây dựng chương trình bảo tồn văn hóa phi vật thể và thực hiện tiêu chí văn hóa trong xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu sưu tầm thực địa về dân ca nghi lễ đám cưới, đám tang và các bảng khảo tả diễn xướng tại Chương 2 và Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu những thể loại dân ca Khmer cụ thể nào?
Luận án tập trung nghiên cứu năm thể loại dân ca Khmer: hát ru, dân ca trong lễ cưới truyền thống, dân ca trong lễ tang truyền thống, đồng dao và hát đối đáp nam nữ.
2. Số lượng bài dân ca tác giả đã trực tiếp sưu tầm qua điền dã là bao nhiêu?
Tác giả đã sưu tầm tổng cộng 90 bài dân ca, gồm: 35 bài hát ru, 14 bài trong lễ cưới, 25 bài trong lễ tang, 07 bài đồng dao và 09 bài hát đối đáp nam nữ.
3. Địa bàn điền dã khảo sát của luận án gồm những tỉnh, thành phố nào?
Phạm vi điền dã thu thập tư liệu của luận án được giới hạn tại sáu tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL gồm: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long và Thành phố Cần Thơ.
4. Luận án sử dụng những khung lý thuyết chính nào để tiếp cận vấn đề?
Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết "Vùng văn hóa và văn hóa vùng" (dựa trên quan điểm của Ngô Đức Thịnh, Huỳnh Khái Vinh, Trần Ngọc Thêm...) và Lý thuyết "Tính nguyên hợp về phương diện chức năng của Folklore" kết hợp lý thuyết diễn xướng ngôn từ của Richard Bauman.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Hữu là công trình nghiên cứu chuyên khảo về dân ca của người Khmer ĐBSCL dưới góc độ Văn hóa học. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, cung cấp tập tư liệu điền dã gồm 90 bài dân ca thuộc năm thể loại và phân tích vai trò của dân ca trong hai không gian văn hóa gia đình và cộng đồng. Công trình đã làm rõ hiện trạng biến đổi của diễn xướng dân ca trong bối cảnh xã hội đương đại và đề xuất các định hướng nguyên tắc nhằm bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào Khmer Nam Bộ.