Tổng quan luận án

Đề tài "Dân ca nghi lễ của người Thái" do nghiên cứu sinh Hà Thị Anh Đào thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Lê Chí Quế, thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 01 25) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2018).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Dân tộc Thái là một trong những cộng đồng có kho tàng văn hóa dân gian phong phú tại Việt Nam. Ngày 27 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020", nhấn mạnh việc gìn giữ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Trong kho tàng văn học dân gian Thái, dân ca nghi lễ gắn bó với đời sống con người từ khi sinh ra đến khi qua đời (lễ cầu tự, mừng nhà mới, mừng cơm mới, lễ vía, hôn lễ, tang lễ). Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc sưu tầm, dịch thuật hoặc nghiên cứu đơn lẻ từng phong tục, chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về dân ca nghi lễ trong tính nguyên hợp và gắn với môi trường diễn xướng thực tế. Mặt khác, việc phân tích trực tiếp trên văn bản chữ Thái cổ và lời hát tiếng dân tộc của các nhà nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn. Là một người con của dân tộc Thái công tác tại huyện Quan Sơn (Thanh Hóa), tác giả thực hiện luận án nhằm nghiên cứu sâu hai mảng dân ca nghi lễ có dung lượng phong phú nhất là hôn lễ và tang lễ.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Tập trung nghiên cứu nội dung phản ánh và phương thức phản ánh của dân ca nghi lễ người Thái trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần thông qua việc phân tích, diễn giải các văn bản dân ca nghi lễ.
    2. So sánh diễn trình diễn xướng nghi lễ cưới hỏi và tang ma ở một số ngành Thái; so sánh dân ca nghi lễ của người Thái với một số dân tộc anh em khác nhằm xác định sự tương đồng và khác biệt về diễn xướng và văn bản dân ca.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Tập hợp, hệ thống hóa, đối chiếu tư liệu trên các văn bản đã công bố, đồng thời tiến hành điền dã khảo sát tư liệu mới và quan sát bối cảnh diễn xướng thực tế của người Thái ở Việt Nam.
    2. Nghiên cứu nội dung và nghệ thuật của dân ca nghi lễ với tư cách là thành tố trong mối quan hệ giữa bối cảnh diễn xướng và các lễ thức tín ngưỡng dân gian; xem xét dân ca nghi lễ như một hiện tượng văn hóa mang tính nguyên hợp, lý giải ý nghĩa biểu tượng thẩm mỹ dựa trên đặc trưng văn hóa tộc người.
    3. Đặt dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa nhằm làm rõ các khía cạnh phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Thái.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Dân ca nghi lễ của người Thái ở Việt Nam.
    • Phạm vi nội dung: Đi sâu vào hai tiểu loại tiêu biểu là dân ca hôn lễ (dân ca đám cưới) và dân ca tang lễ (mo đám tang).
    • Phạm vi không gian: Địa bàn khảo sát chính là tỉnh Thanh Hóa (các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân) – nơi giao thoa của các vùng Thái Tây Bắc, Nghệ An và Thái Lào; mở rộng điền dã so sánh tại các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên, Nghệ An.
    • Phạm vi thời gian và tư liệu: Khảo sát các văn bản chữ Thái cổ, bản dịch đã xuất bản và tư liệu điền dã thực tế từ năm 2011 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại lịch sử nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian và dân ca nghi lễ người Thái qua các thời kỳ:

  • Thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc:

    • Các ghi chép địa chí của nhà nho và quan lại: Nguyễn Trãi trong Dư địa chí ghi chép về nhóm Thái xứ Hưng Hóa; Hoàng Bình Chánh với Hưng Hóa phong thổ lục; Phạm Thận Duật với Hưng Hóa ký lược.
    • Các công trình của học giả người Pháp: A. Bourlet với "Les Thai" trên tạp chí Anthropos (1907); R. Robert với cuốn Notes Sur Les Tay Deng de Lang Chanh (Thanh Hoa - An Nam) (1941) nghiên cứu về nhân chủng, ngôn ngữ, di cư và phong tục người Thái.
  • Các công trình sưu tầm, nghiên cứu dân ca Thái nói chung:

    • Nông Quốc Chấn (chủ biên, 1962), tập Văn học dân tộc thiểu số trong bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, giới thiệu ca dao, dân ca Thái về lao động sản xuất.
    • Mạc Phi (1979), Dân ca Thái, giới thiệu các bài hát về tình yêu, nông lễ.
    • Đặng Nghiêm Vạn và cộng sự (1988), Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Châu, sưu tầm truyện thơ, ca dao, tục ngữ.
    • Cầm Biêu (1991), Hạn Khuống, giới thiệu hình thức sinh hoạt văn hóa dân ca đối đáp nam nữ; Cầm Biêu (1991), giới thiệu tục Xên kẻ của người Thái Sơn La.
    • Nguyễn Hữu Thức và cộng sự (1991), Dân ca Thái Mai Châu, khảo sát dân ca nghi lễ nông nghiệp, mừng nhà mới, giao duyên.
    • Cầm Cường (1993), Tìm hiểu văn học dân tộc Thái ở Việt Nam.
    • Đinh Gia Khánh (chủ biên, 1998), Văn học dân gian Việt Nam, phân loại dân ca Thái thành ba mảng: lao động, nghi lễ phong tục và sinh hoạt.
    • Dương Đình Minh Sơn (2001), Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc Việt Nam.
    • Trần Thị An (chủ biên, 2008), tập 17 và bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (2010), giới thiệu các làn điệu Khắp Long toong, Khắp Xe, Khắp Sên.
    • Nguyễn Văn Hòa (2011), Dân ca Thái vùng Tây Bắc; Cầm Hùng (2011), Dệt sứ - lam thời xưa của dân tộc Thái Đen Sơn La.
    • Tòng Văn Hân (2012), Khắp sứ lam của người Thái Đen xã Noong Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
    • Đặng Thị Oanh (2012), luận án tiến sĩ Biểu tượng nước từ văn hóa đến văn học dân gian của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam.
    • Hà Mạnh Phong và Đỗ Thị Tấc (2012, 2015), Dân ca Thái Lai Châu và Thơ và dân ca tình yêu dân tộc Thái Mường So.
    • Lương Thị Đại, Lò Xuân Hinh, Đỗ Thị Tấc (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái (dày gần 900 trang, gồm lời ca Xên bản xên mường, Kin Pang Then, Tín ngưỡng ca).
    • Hoàng Anh Nhân (2015), Tuyển tập sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Thanh Hóa.
  • Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về dân ca nghi lễ và phong tục cưới xin, tang ma:

    • Hà Thị Hấm, Lục Thị Khuyên (1983), Khặp Thái Thanh Hóa.
    • Hoàng Anh Nhân (1985), Văn hóa truyền thống mường Ca Da; Bùi Tiên (1985), Văn hóa truyền thống Thường Xuân.
    • Vương Anh (1990), Văn hóa truyền thống Lang Chánh; Nhóm tác giả (1990), Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc ở Thanh Hóa.
    • Vi Văn An (1996), bài viết "Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở Miền núi Nghệ An".
    • Hoàng Cầm (1999), luận văn thạc sĩ Mo của người Thái ở Mường Tấc - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La.
    • Hoàng Trần Nghịch (sưu tầm, 2000) và Hoàng Lương (giới thiệu), tập sách Lời tang lễ (nghiên cứu mo tang lễ vùng Thuận Châu, Sơn La).
    • Đồng Trọng Im (2003), Đám cưới của người Thái Trắng Phong Thổ - Lai Châu; Nguyễn Ngọc Bảo (2004), nghiên cứu truyện thơ Tiễn dặn người yêu gắn với phong tục cưới xin.
    • Quàng Thị Chính (2005), Lễ cưới dòng họ Mè huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Cầm Trọng (2005), "Lễ tục cưới xin trong xã hội cổ truyền Thái Đen"; Lương Thị Đại (2005), Tang lễ của người Thái Trắng.
    • Trần Chinh Dương (2009), luận văn thạc sĩ Khảo sát văn bản Xên bản - xên mường của người Thái mường Thanh Điện Biên.
    • Quán Vi Miên (2010, 2011, 2013) với các công trình Mường Bôn huyền thoại, Tang lễ của người Thái Nghệ An, Đám cưới truyền thống của người Thái Nghệ An.
    • Đào Quang Tố (2011), Lường Vương Trung (2011) với Phong tục tang lễ của người Thái Đen xưa kia; Lò Vũ Vân (2011) với Lời ca tang lễ của dòng họ Sa: Dân tộc Thái vùng Mộc Châu (Sơn La).
    • Lò Xuân Dừa (2014, 2016) với cuốn sách Tang lễ dòng họ Lò bản Tặt và luận án tiến sĩ Văn hóa học Tang ma Thái: quy trình nghi lễ để tạo dựng cuộc sống mới cho người chết.
    • Hoàng Trần Nghịch, Lò Văn E (2015), "Mo tang ma Báo hồn trần gian"; Chu Thùy Liên và cộng sự (2015), Tổng quan văn hóa truyền thống dân tộc Thái tỉnh Điện Biên.
    • Tòng Văn Hân (2016), Tang lễ của người Thái Đen Mường Thanh (tập hợp 36 bài ca tang lễ qua 36 hoạt động); Lường Song Toàn (2016), Hôn nhân truyền thống và những nghi thức trong lễ cưới của người Thái ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ (nghi lễ thuần túy, dịch thuật phần lời hoặc khảo sát một dòng họ, một địa phương hẹp). Luận án của Hà Thị Anh Đào lựa chọn giải quyết vấn đề dân ca nghi lễ Thái một cách hệ thống, đặt lời ca trong chỉnh thể nguyên hợp với bối cảnh diễn xướng, so sánh đối chiếu giữa các ngành Thái (Thái Đen, Thái Trắng ở Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An) và phân tích sâu các giá trị nghệ thuật ngôn từ, cấu trúc và tính biểu tượng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  1. Lý thuyết nghiên cứu văn bản:

    • Khái niệm dân ca: Tiếp thu định nghĩa của Phan Đăng Nhật (dân ca là sáng tác dân gian trữ tình bằng ngôn ngữ có vần điệu gắn với lời ca hát) và định nghĩa của Đặng Nghiêm Vạn (dân ca là những bài hát ngâm, kể bằng văn vần, độc lập hoặc kèm nhạc, múa, trò diễn, từ vài câu đến hàng trăm, hàng ngàn câu).
    • Khái niệm dân ca nghi lễ: Dựa trên quan điểm của Nguyễn Xuân Kính (lời hát của người thực hiện hành vi nghi lễ trong đám cưới, đám tang, cầu cúng, chúc tụng, trở thành bộ phận hữu cơ của nghi lễ), cùng hệ thống phân loại thể loại của Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn và Phan Đăng Nhật.
  2. Lý thuyết về diễn xướng và mối quan hệ văn bản – diễn xướng – bối cảnh:

    • Ứng dụng lý thuyết Nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng của Richard Bauman (Folklore học Hoa Kỳ). Diễn xướng là hành động mang tính nghệ thuật và sự kiện nghệ thuật bao gồm người biểu diễn, hình thức nghệ thuật, thính giả và bối cảnh. Văn bản folklore không cố định mà được tái sinh trong từng bối cảnh cụ thể.
    • Tiếp thu quan điểm của Alan Dundes về việc xem xét toàn diện mối quan hệ qua lại giữa ba cấp độ: kết cấu (structure), văn bản (text) và bối cảnh (context).
  3. Lý thuyết về nghiên cứu bối cảnh diễn xướng folklore:

    • Phân tích bối cảnh theo góc độ ngôn ngữ học và ngữ dụng học (nhân vật giao tiếp, vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường). Lời ca dân gian kết hợp thông tin ngữ nghĩa với thông tin ngữ cảnh để tạo ra cấu trúc nghĩa hoàn chỉnh trong nghi lễ.
  4. Lý thuyết văn hóa tộc người:

    • Đặt tác phẩm văn học dân gian trong tổng thể các yếu tố lịch sử, sinh hoạt kinh tế nông nghiệp lúa nước, tổ chức bản mường và thế giới quan tâm linh của tộc người Thái.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích ngữ văn dân gian: Phân tích đặc điểm nội dung, cấu trúc ca từ, biện pháp tu từ, hình tượng nghệ thuật trên văn bản tiếng Thái cổ, bản phiên âm và bản dịch nghĩa/dịch thơ.
  • Phương pháp so sánh lịch sử và so sánh loại hình: So sánh nghi lễ và dân ca giữa các ngành Thái (Thái Đen, Thái Trắng), giữa các vùng cư trú (Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An) và so sánh với một số dân tộc khác (Tày, Nùng, Mường).
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp kiến thức và thao tác của ngữ văn học, dân tộc học, văn hóa học, nhân học, lịch sử và tâm lý học.
  • Phương pháp điền dã: Quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các nghệ nhân, ông mo, ông mối; ghi âm, chụp ảnh, ghi chép văn bản tại các đám cưới và tang lễ thực tế.

Nguồn tư liệu và dữ liệu điền dã

  1. Nguồn tư liệu chữ viết và xuất bản:

    • Các tuyển tập: Khặp Thái Thanh Hóa (1983), Khắp sứ lam... (2012), Đám cưới truyền thống của người Thái Nghệ An (2013), Tang lễ của dòng họ Lò bản Tặt (2014), Tang lễ của người Thái trắng (2005), Tang lễ của người Thái Đen mường Thanh (2016), Lời tang lễ (2000), Hợp tuyển VHDG các dân tộc ở Thanh Hóa (1990), Tổng quan văn hóa truyền thống dân tộc Thái tỉnh Điện Biên (2015).
    • Bản chép tay chữ Thái cổ tại Thanh Hóa do nghệ nhân Hà Nam Ninh sưu tầm, dịch thơ (2011): 02 bài đám cưới (Cảm ơn thông gia - 44 câu, Hát mời trầu - 68 câu); 20 bài Mo tang lễ chép tay bằng bút tàu mực xanh đen tại huyện Bá Thước (độ dài từ 90 đến 1.449 câu mỗi bài).
  2. Dữ liệu điền dã thực tế:

Bảng 1: Thống kê tư liệu điền dã nghi lễ đám cưới

STT Họ và tên cô dâu - chú rể Tuổi Thời gian tổ chức Địa điểm tổ chức lễ cưới
1 Lương Việt Đức – Vi Thị Dung 25 – 22 11–12/03/2015 Bản Đỏ, xã Phú Thanh, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2 Vi Văn Chon – Hà Thị Hoài 30 – 23 04–05/01/2016 Bản Pọong, xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
3 Lò Văn Đức – Vi Thị Chinh 18 – 18 28–29/05/2017 Bản Muống, xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Bảng 2: Thống kê tư liệu điền dã nghi lễ tang ma

STT Họ và tên người mất Giới tính Tuổi Thời gian tang lễ Địa điểm tổ chức tang lễ
1 Lò Văn Ếu Nam 81 20–22/12/2015 Bản Khó, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2 Phạm Bá Minh Nam 58 02–04/04/2016 Bản Na Nghịu, xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3 Hà Thị Tế Nữ 77 26–28/05/2017 Bản Leo, xã Thành Lâm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

Chương 1 trình bày cơ sở thực tiễn và lý luận của luận án.

  • Tổng quan về người Thái ở Việt Nam: Khái quát lịch sử tộc người, dân số (1.423.000 người theo điều kiện thống kê năm 2009, đứng thứ 3 tại Việt Nam), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Dân tộc gồm hai nhóm chính: Thái Đen (Táy Đăm) và Thái Trắng (Táy Khao). Lịch sử thiên di được ghi chép trong Quăm tô mường (thế kỷ XI hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đưa dân đến Mường Lò, đến thế kỷ XIII cư trú ổn định tại vùng Tây Bắc và miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An). Trình bày đời sống kinh tế nông nghiệp lúa nước ("Tắng chặng kin pá, phừa na kin kháu"), tập quán canh tác thung lũng, nghề dệt thổ cẩm, đan lát. Mô tả phong tục sinh hoạt nhà sàn, ẩm thực (cơm nếp, chẻo tời, canh uôi, rượu cần), tập quán kiêng kỵ theo lịch Thái (8 loại ngày: kim xa, xướn xa, cân xa, khóa ngàng, cân trong, xướm trong, kim trong, khóa đỏ).
  • Vũ trụ quan và tín ngưỡng: Thế giới quan ba tầng gồm Then Luông ngự trên trời cao, dưới đất là thế giới người sống và thế giới ma (Phi). Mỗi con người có 80 hồn (khuân), khi chết hồn ở đầu lên trời, hồn ở tứ chi thành ma nhà (Phi hươn) ngụ tại bàn thờ, hồn ở thân thể về rừng Mường Pú Pẩu.
  • Văn học dân gian và dân ca nghi lễ: Khái quát 5 thể loại chính của văn học dân gian Thái: Thần thoại (Truyện quả Bầu, Chẩu rang dệt pú), Truyện cổ tích (Chàng Voi con, Mon và Lảu), Tục ngữ (hơn 1.000 câu), Dân ca (dân ca sinh hoạt, dân ca lao động, dân ca nghi lễ), Truyện thơ (Xống chụ xon xao, Khun Lú - Nàng Ủa).
  • Cơ sở lý thuyết: Trình bày chi tiết 4 khung lý thuyết (nghiên cứu văn bản, lý thuyết diễn xướng, lý thuyết bối cảnh và lý thuyết văn hóa tộc người).

CHƯƠNG II: DÂN CA NGHI LỄ ĐÁM CƯỚI – DIỄN TRÌNH DIỄN XƯỚNG VÀ NỘI DUNG

Chương 2 tập trung khảo sát thực hành diễn xướng và phân tích ca từ trong nghi lễ hôn nhân của người Thái.

  • Các nghi thức và diễn trình diễn xướng: Khảo sát các bước trong tiến trình kết hôn từ lễ dạm ngõ, ăn hỏi, lễ xin cưới, lễ đón dâu và lễ tạ ơn. Khảo sát lời hát đối đáp (khắp sứ lam) giữa ông mối bên nhà trai (chẩu sứ) và đại diện nhà gái (chẩu lam). Lời ca mang tính chất ứng tác linh hoạt tùy thuộc vào địa điểm (dưới chân cầu thang, trước cửa gian khách, bên mâm rượu) và sự tiếp đón của nhà gái.
  • Nội dung cơ bản của dân ca đám cưới:
    1. Phản ánh phong tục, lễ nghi cưới xin: Miêu tả chi tiết các sính lễ truyền thống (bạc trắng, trâu, vải vóc, chăn đệm thổ cẩm), quy định đón dâu, tục ở rể (làm rể quản) của người Thái vùng Tây Bắc và Thanh Hóa.
    2. Phản ánh quan niệm về tình yêu và hôn nhân: Đề cao sự hòa hợp lứa đôi, lòng chung thủy bền chặt, sự gắn kết giữa hai dòng họ dựa trên nền tảng đạo lý gia đình truyền thống.
    3. Phản ánh nét đẹp tâm hồn, tính cách người Thái: Lòng hiếu thảo với cha mẹ hai bên, đức tính cần cù, chăm chỉ của người phụ nữ trong công việc dệt may thêu thùa và sự khiêm nhường, khéo léo trong ứng xử giao tiếp cộng đồng.

CHƯƠNG 3: DÂN CA NGHI LỄ TANG MA – DIỄN TRÌNH DIỄN XƯỚNG VÀ NỘI DUNG

Chương 3 khảo cứu toàn diện hệ thống bài ca mo tang lễ và diễn trình nghi lễ tiễn đưa người quá cố.

  • Các nghi thức và diễn trình diễn xướng theo thời gian:
    • Ngày thứ nhất (Ngày đứt hơi): Túc trực bên người hấp hối, thủ tục ngừng hơi thở, mặc tang phục, lễ cúng nhập quan, thủ tục đuổi ma tà.
    • Ngày thứ hai: Tiến hành các bài mo lớn như mo mổ trâu tế lễ, mo cúng cơm, mo chay, mo kể nguồn gốc vũ trụ (đẻ đất đẻ nước), mo kể thân thế thầy mo, mo kể tiểu sử cuộc đời người chết, mo nguồn gốc quan tài và chuẩn bị đưa tang ra nghĩa địa.
    • Ngày thứ ba và sau chôn cất: Mo tiễn đưa linh hồn lên trời (Mo lên trời), mo dẫn đường qua các chặng sông núi âm ty, mo bán hoa, mo bán chim Nộc Cáo, đưa hồn vào nghĩa địa (Mường Ma), làm lễ cúng cơm nhà mồ, cúng tẩy trần, cúng vía giải hạn và làm lễ mãn tang cho con cháu.
  • Nội dung cơ bản của dân ca tang lễ:
    1. Phản ánh thế giới quan và vũ trụ quan: Khắc họa cấu trúc không gian ba tầng, hành trình của linh hồn vượt qua các cửa ải để về với tổ tiên mường Then; phản ánh quan niệm vạn vật hữu linh và sự phân định ranh giới giữa cõi sống và cõi chết.
    2. Phản ánh nét đẹp tâm hồn và đạo lý: Bày tỏ lòng thương tiếc sâu sắc, sự tri ân công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, gắn kết tình cảm họ hàng làng bản.
    3. Phản ánh đời sống sinh hoạt: Tái hiện toàn bộ bức tranh lao động sản xuất, phong tục canh tác ruộng rẫy, săn bắn, dệt vải và lịch sử khai hoang lập bản mường của tổ tiên.

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG DÂN CA NGHI LỄ DÂN TỘC THÁI

Chương 4 phân tích các đặc trưng thi pháp và thủ pháp nghệ thuật ngôn từ trong dân ca hôn lễ và tang lễ.

  • Kết cấu của dân ca nghi lễ:
    • Hình thức kết cấu: Kết cấu đối đáp (trong đám cưới giữa sứ và lam), kết cấu diễn xướng độc xướng có phụ họa (thầy mo xướng, con cháu và người trợ tế đáp), kết cấu theo tiến trình thời gian thực hiện nghi lễ.
    • Các biện pháp kết cấu: Kết cấu trùng điệp, lối kết cấu móc xích (vắt dòng, câu sau lặp lại từ ngữ của câu trước), kết cấu đối xứng sóng đôi trong câu thơ tiếng Thái.
  • Phương tiện và biện pháp nghệ thuật:
    • Lối so sánh tu từ: Sử dụng các hình ảnh so sánh gắn liền với thiên nhiên núi rừng, cây cỏ, con vật gần gũi (dòng suối, ngọn núi, cây tre, chim muông).
    • Ẩn dụ nghệ thuật: Các ẩn dụ về tình yêu đôi lứa, sợi tơ, hạt lúa, cây cẩu trong hôn nhân; ẩn dụ về sự ra đi, chiếc thuyền chở hồn, chuyến đò âm dương trong tang lễ.
    • Hệ thống biểu tượng trong hôn lễ: Biểu tượng trầu cau, chén rượu, chỉ đỏ buộc cổ tay, tấm khăn thổ cẩm, chiếc đệm cưới tượng trưng cho sự gắn bó lứa đôi và lời chúc phúc con đàn cháu đống.
    • Hệ thống biểu tượng trong tang ma: Biểu tượng lọng chiếng, con chim Nộc Cáo (dẫn đường linh hồn), cây hoa mo, dòng nước phân chia cõi âm - cõi dương, chiếc cầu Then nối liền mặt đất với bầu trời.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu khoa học: Luận án là công trình chuyên khảo tập hợp, hệ thống hóa toàn diện các nguồn tư liệu văn bản đã xuất bản và bổ sung khối lượng tư liệu điền dã thực tế mới về dân ca đám cưới, dân ca tang ma của người Thái (đặc biệt là 20 bài mo tang lễ chép tay chữ Thái cổ tại vùng Bá Thước, Thanh Hóa).
  2. Về mặt lý luận và phương pháp tiếp cận: Đặt dân ca nghi lễ trong môi trường diễn xướng nguyên hợp; làm rõ mối quan hệ hữu cơ giữa văn bản lời ca, chủ thể thực hành nghi lễ (thầy mo, ông mối, gia đình) và bối cảnh không gian - thời gian tín ngưỡng.
  3. Về mặt nội dung và thi pháp nghệ thuật: Chỉ ra diện mạo, nguồn gốc và dạng thức tồn tại của dân ca nghi lễ Thái; phân tích hệ thống kết cấu nghệ thuật, các biện pháp tu từ và giải mã thế giới biểu tượng thẩm mỹ đặc trưng gắn với thế giới quan tộc người.
  4. Kiến nghị và giải pháp bảo tồn: Luận án đề xuất việc tiếp tục sưu tầm, dịch thuật các văn bản chữ Thái cổ; duy trì không gian diễn xướng dân gian truyền thống trong cộng đồng bản mường; khuyến khích các nghệ nhân truyền dạy chữ Thái cổ và các bài bản dân ca nghi lễ cho thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào hai mảng nghi lễ lớn là đám cưới và tang ma, chưa thể khảo sát sâu toàn bộ các tiểu loại nghi lễ khác (như lễ cúng mùa màng, Kin Pang Then, mừng nhà mới, lễ vía). Địa bàn khảo sát thực địa trọng tâm tại Thanh Hóa và một số vùng Tây Bắc, Nghệ An, chưa bao quát toàn bộ các nhánh địa phương của người Thái tại các tỉnh khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên văn hóa giữa dân ca nghi lễ của người Thái ở Việt Nam với các nhóm tộc người thuộc ngữ hệ Tai-Kadai ở các quốc gia láng giềng (Lào, Thái Lan, Trung Quốc); nghiên cứu sâu hơn về phương diện âm nhạc dân gian và sự biến đổi của dân ca nghi lễ Thái trong bối cảnh xã hội đương đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Tài liệu chuyên khảo hữu ích phục vụ học tập, nghiên cứu trong các chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học và Ngôn ngữ học dân tộc thiểu số.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu văn bản chữ Thái, bản dịch thơ đối chiếu và hệ thống lý thuyết diễn xướng áp dụng vào việc nghiên cứu folklore các dân tộc thiểu số Việt Nam.
  • Đối với cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, hỗ trợ các nghệ nhân dân gian và tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng tại các tỉnh miền núi có đồng bào Thái sinh sống (Thanh Hóa, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Hòa Bình).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tập trung khảo sát những tiểu loại dân ca nghi lễ nào của người Thái?
Luận án đi sâu nghiên cứu hai tiểu loại có dung lượng phong phú và đóng vai trò quan trọng nhất trong vòng đời người Thái là dân ca nghi lễ đám cưới (dân ca hôn lễ) và dân ca nghi lễ tang ma (mo đám tang).

2. Địa bàn khảo sát điền dã trọng tâm của luận án được thực hiện ở đâu?
Địa bàn khảo sát chính là tỉnh Thanh Hóa (tập trung tại các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân), đồng thời có sự mở rộng, đối chiếu thực địa tại các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên và Nghệ An.

3. Khối tư liệu văn bản chép tay chữ Thái cổ mới được tác giả đưa vào nghiên cứu gồm những gì?
Tác giả đã thu thập và sử dụng các bản chép tay chữ Thái gồm 02 bài dân ca đám cưới (Cảm ơn thông gia dài 44 câu, Hát mời trầu dài 68 câu) và hệ thống 20 bài Mo tang lễ dài từ 90 đến 1.449 câu do các tác giả Hà Công Mậu, Hà Nam Ninh sưu tầm, biên dịch tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

4. Khung lý thuyết chính được luận án áp dụng để giải mã dân ca nghi lễ là gì?
Luận án dựa trên 4 khung lý thuyết: Lý thuyết nghiên cứu văn bản dân ca; Lý thuyết diễn xướng và mối quan hệ văn bản - diễn xướng - bối cảnh (tiếp thu từ Richard Bauman, Alan Dundes); Lý thuyết nghiên cứu bối cảnh diễn xướng folklore (ngữ dụng học); và Lý thuyết văn hóa tộc người.

5. Quan niệm về linh hồn của người Thái được phản ánh trong dân ca tang lễ như thế nào?
Theo quan niệm phản ánh trong các bài mo tang lễ, mỗi con người có 80 hồn (khuân). Khi qua đời, các hồn ở đầu tập trung lại thành ma bay lên mường Trời (nơi Then ngự trị); các hồn ở tứ chi ở lại bàn thờ gia đình thành ma nhà (Phi hươn) phù hộ con cháu; các hồn ở thân thể đi về khu rừng nghĩa địa Mường Pú Pẩu (Mường Ma).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Dân ca nghi lễ của người Thái" của tác giả Hà Thị Anh Đào là công trình nghiên cứu hệ thống về mảng dân ca hôn lễ và tang lễ của tộc người Thái tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích ngữ văn dân gian, điền dã dân tộc học và lý thuyết diễn xướng folklore, công trình đã làm sáng tỏ mối liên hệ hữu cơ giữa văn bản lời ca với các nghi thức tín ngưỡng và bối cảnh văn hóa bản mường. Luận án cung cấp nguồn tư liệu chữ Thái cổ và tư liệu điền dã có giá trị khoa học, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Thái trong đời sống đương đại.