phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án bao gồm 4 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài Chƣơng 2: Dân ca nghi lễ đám cƣới - diễn trình diễn xƣớng và nội dung Chƣơng 3: Dân ca nghi lễ tang ma - diễn trình diễn xƣớng và nội dung Chƣơng 4: Một số phƣơng diện nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của ngƣời Thái 13 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về ngƣời Thái ở Việt Nam 1. Lịch sử tộc người, dân số, địa bàn cư trú Ngƣời Thái là một trong những dân tộc ít ngƣời đã có nhiều công sức trong sự nghiệp dựng nƣớc. Ý thức này đƣợc thể hiện rất rõ trong tâm lý “hặc pản péng mƣớng” (yên bản yên mƣờng), quyết tâm xây dựng quê hƣơng thành một vùng giàu có của đất nƣớc.
Họ luôn luôn coi miềm quê hƣơng mình là một bộ phận hay một địa phƣơng của đất nƣớc Việt Nam. Ngƣời Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Hiện nay, các tộc ngƣời thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (hay Cháng - Đồng hay Kăm - Thái) có gần trăm triệu ngƣời cƣ trú ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Liên bang Myanmar vùng Assam miền đông Ấn Độ. Xƣa các tộc ngƣời này có chung một nguồn gốc, một ngôn ngữ, sau dần tản ra thành các tộc ngƣời riêng rẽ.
Dựa vào tình hình hiện nay có thể chia thành hai ngành: ngành phía Đông và ngành phía Tây. Ở Việt Nam có ba tộc ngƣơi Thái, Lào, Lự thuộc ngành phía Tây. Theo thống kê dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, dân tộc Thái hiện nay có 1.423 ngƣời, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam. Ngƣời Thái sinh sống tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Dân tộc Thái còn có tên gọi khác là Táy và có các nhóm: Táy Đăm (Thái Đen), Táy Khao (Thái Trắng), Táy Mƣới, Táy Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày- Thái. Ngƣời Thái tự danh là Cân Tay (ngƣời Tay) hay Phu Tay. Các công trình nghiên cứu trƣớc đây chƣa giải thích rõ ràng thời điểm chia tách thành nhóm ngƣời Tày và ngƣời Thái cũng nhƣ giữa ngƣời Lào và ngƣời Thái Việt Nam.
Khảo sát thực tế, ngƣời Thái có tiếng nói, văn học dân gian, đặc biệt là thần thoại, cổ tích. Họ ý thức rằng, phía dƣới có ngƣời Kinh, phía trên có ngƣời Lào; ngƣời Lào là anh, ngƣời Kinh là em út. Ngƣời Thái có 02 nhóm chính là Thái Đen (phân bố chủ yếu ở Thanh Hóa, Nghệ An) và Thái Trắng (vùng Tây Bắc). 14 z Quăm tô mƣơng (lịch sử bản mƣờng) của ngƣời Thái đã ghi lại, đến thế kỷ XI, hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đã đƣa ngƣời Thái xuống tận Mƣờng Ôm, Mƣờng Ai (Vân Nam- Trung Quốc) đến Mƣờng Lò (Nghĩa Lộ- Yên Bái).
Sau đó, hậu duệ của Tạo Xuông, Tạo Ngần đã khai phá mƣờng, tạo lập cả một vùng đất miền Tây và Tây Bắc rộng lớn. Đến cuối thế kỷ XIII, ngƣời Thái ở Việt Nam đã cƣ trú ổn định ở vùng Tây và Tây Bắc Việt Nam. Do địa bàn cƣ trú cùng các cuộc thiên di lớn từ những thiên niên kỷ thứ nhất và thứ hai sau công nguyên, các ngành Thái Đen và Thái Trắng đã có sự giao lƣu, tiếp biến với nhiều nền văn hóa và nhân chủng của các cƣ dân địa phƣơng nơi họ đi qua. Vì thế ngày nay, một số nhóm Thái Đen có sự pha trộn của dân tộc Lào, ngành Thái Trắng ở vùng Hoàng Liên Sơn và Hòa Bình đã chịu ảnh hƣởng đậm nét của văn hóa Tày nên đã bị Tày hóa.
Chính những yếu tố này đã tác động tới nền văn hóa lâu đời của ngƣời Thái tạo nên sự giao thoa văn hóa giữa ngƣời Thái và các tộc ngƣời trong vùng cƣ trú. Đời sống kinh tế Trƣớc khi vào Hợp tác xã, hình thành kinh tế tập thể vào những năm 60 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tự cấp tự túc. Nghề sống chính là làm ruộng, làm nƣơng, chăn nuôi gia súc, gia cầm kết hợp với khai thác nguồn thức ăn trong tự nhiên. Một số vật phẩm có giá trị nhƣ đại gia súc, thổ cẩm mỹ nghệ là có thể mang bán hoặc trao đổi.
Các loại dụng cụ lao động và dụng cụ sinh hoạt gia đình thuộc đồ gốm, đồ đồng, đồ sắt và muối ăn phải mua với ngƣời dƣới xuôi. Trong các bản làng đã có một số ít ngƣời đi buôn đƣờng xa. Tuy nhiên mục đích chƣa phải là làm giàu mà chủ yếu là thỏa mãn nhu cầu đƣợc đi lại giao lƣu, mở rộng hiểu biết xã hội. Tài sản tích lũy thƣờng hay quan tâm là ruộng đất, sanh, nồi, chiêng, bạc trắng, vải vóc.
Ngƣời Thái vốn là cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc lâu đời. Đồng bào quen với cuộc sống ổn định là “Tắng chặng kin pá, phừa na kin kháu” nghĩa là “Chặn nƣớc ăn cá, làm ruộng ăn cơm” [113, tr. Bản mƣờng Thái định 15 z cƣ ở vùng thung lũng chân núi. Con trâu là loại gia súc chủ yếu vừa dùng để cày bừa, vừa để làm thịt, cúng tế vừa bán lấy tiền.
Nghề trồng lúa nƣớc trong các cánh đồng dọc theo thung lũng sông, suối đã phát triển ở mức độ kỹ thuật cao. Ngƣời Thái đã tích lũy đƣợc một kho tàng kinh nghiệm về nƣớc, phân, cần, giống, đặc biệt chú ý về các biện pháp thủy lợi, thời vụ và phòng trừ sâu, chuột, trâu, bò phá hoại. Thời xa xƣa, ngƣời Thái chỉ làm ruộng mỗi năm một vụ, vào vụ mùa từ tháng năm đến tháng mƣời, mà vẫn đủ lƣơng thực để ăn quanh năm. Về sau, do nhu cầu lƣơng thực tăng, ngƣời Thái đã làm ruộng mỗi năm hai vụ, trong đó ruộng thấp canh tác quanh năm, ruộng cao, bậc thang chỉ làm một vụ.
Sản phẩm nông nghiệp tƣơng đối phong phú. Có nhiều giống lúa quý trồng ở ruộng, nƣơng. Mặc dù bữa ăn của ngƣời Thái chủ yếu dùng cơm nếp, nhƣng lúa gạo làm ra có đủ nếp, đủ tẻ, có nhiều loại thơm ngon nhƣ nếp cái, nếp cẩm, tám thơm… Tuy nhiên, do diện tích đất bằng có thể khai ruộng đƣợc còn hạn chế và điều kiện thời tiết, khí hậu, thiên tai thất thƣờng, sức ngƣời chƣa thể chinh phục đƣợc. Ngƣời ta còn nhiều điều ƣớc nguyện cầu mong đƣợc ký thác trong văn học dân gian và trong tín ngƣỡng, thờ cúng.
Nghề làm nƣơng, phổ biến là phƣơng pháp quảng canh và xen canh, du canh. Nhƣng ngƣời Thái rất quan tâm đến việc tìm tòi, chọn giống. Hầu nhƣ tất cả các loại giống lƣơng thực, hoa quả, rau màu trồng trên nƣơng của ngƣời Mƣờng, ngƣời Khơ Mú, ngƣời Dao, ngƣời Lào đều đƣợc ngƣời Thái sử dụng. Các nghề thủ công truyền thống phổ biến nhất là nghề thêu dệt thổ cẩm, đan lát, chặt đẽo bằng dao, rìu.
Nghề dệt thổ cẩm, nghề trồng bông kéo sợi, trồng dâu, nuôi tằm, chế biến thuốc nhuộm, dệt thêu may vá trở thành công việc thƣờng ngày của ngƣời phụ nữ Thái. Sản phẩm làm ra phục vụ đầy đủ sinh hoạt của gia đình nhƣ váy, áo, khăn ,túi, chăn, màn, gối ,đệm. Của hồi môn của con gái chủ yếu là các thứ thêu dệt đƣợc. Ngƣời ta quen đánh giá đám rƣớc dâu to, nhỏ trên cơ 16 z sở căn cứ vào số lƣợng chăn, đệm, khiêng, gánh đi theo cô dâu.
Đó là những sản phẩm do chính tay cô dâu làm ra, để dùng cho vợ chồng, con cái suốt đời và làm quà cho ngƣời thân bên nhà chồng. Một số sản phẩm vừa đẹp vừa có giá trị sử dụng thiết thực và đƣợc mua bán, trao đổi từ xƣa nhƣ váy hoa, vỏ chăn, mặt phá, khăn thêu…Hiện nay, một số nơi đã phấn đấu sản xuất thành hàng hóa trao đổi trên thị trƣờng. Tuy nhiên, cách thức sản xuất thủ công theo kiểu gài nan, đếm sợi tốn nhiều công sức thời gian, năng suất thấp. Và nhiều nơi không còn quan tâm đến việc trồng bông, nuôi tằm, chế biến thuốc nhuộm từ cây cỏ.
Do đó chƣa mở rộng sản xuất thổ cẩm hàng hóa. Ngƣời con trai Thái ngày xƣa, lớn lên phải học công việc đầu tiên là đan lát bằng các vật liệu tre, nứa, mây, giang để tạo các vật dụng gia đình nhƣ giỏ đeo, sọt gánh, ép cơm, thúng mủng…và học chặt dao, chặt rìu, đẽo gọt, làm nhà. Vì thế có nhiều ngƣời khéo tay, tao ra nhiều ản phẩm tinh vi, đẹp mắt. Hiện nay đã xuất hiện nhiều thợ mộc khéo tay trong thiết kế nhà cửa, công trình xây dựng.
Nhƣng, khách quan mà nói, trình độ sản xuất đang ở mức độ thấp, ngành nghề thủ công còn đơn điệu, chƣa tiếp cận đƣợc kỹ thuật cơ khí và bán cơ khí, chƣa có hàng hóa thủ công đáng kể. Ngƣời dân còn phải lo toan, phấn đấu nâng cao chất lƣợng cuộc sống, chƣa đủ điều kiện và tâm lý tham gia hoạt động sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa tinh thần. Về sinh hoạt hằng ngày Ngƣời Thái ăn cơm nếp, ở nhà sàn, phụ nữ mặc áo ngắn, váy dài, có phần đầu váy trùm lên trên ngực; ngƣời Thái Thanh Hóa, Nghệ An thì khăn đội đầu màu đen, thêu hoa văn ở hai đầu, còn ngƣời Thái ở Tây Bắc đội khăn piêu, áo trắng cúc dài. Trƣớc đây, phụ nữ thƣờng nhuộm răng đen, ăn trầu.
Nhƣng hiện nay thiếu nữ không còn nhuộm răng đen nữa. Nhà sàn cột chôn hoặc cột kê tảng, thƣờng làm bằng số gian lẻ, bắc thang lên hai đầu. Trong nhà có một vách ngăn giữa phần sinh hoạt của phụ 17 z nữ và đàn ông. Bàn thờ đƣợc đặt trên đầu sàn, phía trong vách ngăn, không để cho khách nhìn thấy.
Nếp nhà có nghề nghiệp thành thầy thì có thêm gác thờ thần nghề nghiệp nhƣ Thần tƣớng (Thần săn thú) âm binh của thầy cúng…Nhà có hai bếp lửa để sƣởi và nấu nƣớng. Đồng thời cũng là nơi khách ngồi tạm trƣớc khi chủ sắp xếp chiếu ngồi. Trong nhà có hai cây cột quan trọng khi dựng phải làm thủ tục khấn tế, đó là cây cột dựng bàn thờ ma nhà (gọi là Xau hóng) và cây cột dựa bếp lửa chính (gọi là Xau tau). Nhà sàn ngƣời Thái làm khau cút ở đầu nóc (nhƣ Thái Tây Bắc), không làm khau cút (nhƣ Thái Thanh Hóa); và khác với nhà sàn ngƣời Mƣờng là xà dọc chạy suốt các gian, không cắt cụt gian ngoài nhƣ ngƣời Mƣờng.
Hƣớng nhà thƣờng dựa vào thế núi, quanh cửa sổ nhìn thẳng về chỗ thấp, đầu gốc cây đòn tay thƣờng quay theo chiều chảy của nƣớc, gốc cây dầm sàn quay về phía đầu giƣờng nằm.