mở đầu giới thiệu nhân vật, tên họ, quê quán, tính tình, phẩm hạnh. Kế đó là kể chuyện kì ngộ. Phần kết kể lí do kể chuyện. Nhân vật chủ yếu là nhân vật đời thường: thư sinh, con buôn, thiếu nữ… Thậm chí, các nhân vật kì ảo cũng thể hiện khía cạnh đời thường như thần thánh ham danh lợi, các nàng ma đa tình… Thời gian trong truyện là thời gian lịch sử ước lệ; thời gian thần thoại, vĩnh hằng; thời gian truyện khép kín.
Lời văn của truyền kì rất uyển chuyển, có sự kết hợp của văn xuôi, văn biền ngẫu, thơ. Nhà nghiên cứu Đinh Phan Cẩm Vân đã khẳng định “truyền kì có nghĩa là truyền đi một sự lạ” (Đinh Phan Cẩm Vân, 2011, tr. Theo nhà nghiên cứu này, thể loại truyền kì bắt nguồn từ Trung Hoa. Sự định hình thể loại của truyền kì Trung Hoa diễn ra vào đời Đường (617 – 907).
Đời Đường đánh dấu một thời kì hội tụ nhiều yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” như kinh tế cực thịnh, tam giáo đồng nguyên, chế độ thi cử chuộng thơ ca, sự phát triển của các ngành nghệ thuật… không chỉ làm nảy sinh một thời đại thơ ca rực rỡ mà còn giúp cho văn xuôi như truyền kì định hình 17 thể loại và khẳng định vị thế của mình. Ở thời kì này, nhiều thành phố lớn xuất hiện như Trường An, Lạc Dương, Dương Châu, Thành Đô… Việc buôn bán, trao đổi hàng hóa trong và ngoài nước phát triển cao nhất so với các giai đoạn trước đó. Tầng lớp thị dân ngày càng lớn mạnh. Tầng lớp này có đời sống khá tự do so với nông dân.
Thị dân đòi hỏi những tác phẩm văn học ít gắn bó với đạo lí thánh hiền và phải gắn bó nhiều hơn với cuộc sống thực, với những vấn đề tình cảm, bản năng của con người… Chính vì vậy, truyền kì xuất hiện ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu của thị dân và được họ yêu thích. Truyền kì nói nhiều về những tài tử giai nhân, những mối tình thư sinh và mĩ nữ, những anh học trò nghèo lên kinh ứng thí… Qua đó, truyền kì đã miêu tả, bênh vực cho tình yêu trai gái, giấc mộng công danh, những đổi thay trong chớp mắt của đời người. Như vậy, mặc dù cái “kì” trong truyền kì có nguồn gốc từ thể loại chí quái, từ đời sống của người nông dân nhưng đến đời Đường đã được chắp cánh bởi tầng lớp thị dân. Cái “kì” trong truyền kì không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở tư tưởng, ở nghệ thuật.
Truyền kì Việt Nam đã tiếp nhận một cách sáng tạo một số mô típ của truyền kì Trung Hoa như mô típ hôn nhân khác thường (người lấy tiên; người chung sống với hồn phách; người chung sống với tinh loài vật, hồn cây cỏ), mô típ nhập mộng. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na khẳng định truyền kì “dùng hình thức kì ảo làm phương thức chuyển tải nội dung” (Nguyễn Đăng Na, 2007, tr. Trong truyện truyền kì, không gian vô định, thời gian vĩnh hằng, nhân vật biến huyễn khôn lường. Tất cả đã tạo nên một thế giới truyền kì vừa ảo vừa thực, vừa cao thượng vừa thấp hèn.
Đặc biệt, truyện truyền kì hay sử dụng các mô típ của văn học dân gian. Tuy nhiên, truyền kì sử dụng những gì được kế thừa nhằm mục đích của mình: Trên con đường văn học hóa truyện dân gian, các tác gia truyện thế tục đã tìm được cho mình một hình thức nghệ thuật phù hợp với yêu cầu và tâm lí thời đại – hình thức truyền kì. Dưới hình thức truyền kì, người cầm bút có thể trực diện với hiện thực đương thời và dễ dàng lách vào những miền cấm kị (Nguyễn Đăng Na, 2007, tr. Luận án Truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại (Nhìn từ phương diện tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật) của Đỗ Thị Mỹ Phương đã phân tích cốt truyện và 18 nhân vật của các tác phẩm truyền kì.
Nếu nhìn tổ chức cốt truyện từ kết cấu cốt truyện, truyền kì có cốt truyện tuyến tính, lồng ghép, lắp ghép, hồi cố. Nếu nhìn tổ chức cốt truyện từ điểm nhìn trần thuật, truyền kì có sự trần thuật theo ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Truyền kì vừa có sự hỗn dung các hình thức lời văn nghệ thuật vừa có xu hướng dùng ngôn ngữ văn xuôi đơn nhất. Về nhân vật, truyền kì có nhân vật kì ảo và nhân vật bình phàm.
Nhân vật trong truyền kì được xây dựng theo nhiều phương thức khác nhau: kết hợp thực - ảo, tiếp cận nhân vật từ nhiều quan điểm, góc độ, tạo tình huống để nhân vật bộc lộ tính cách. Nhà nghiên cứu này cũng phân tích đặc điểm của người kể chuyện trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam trong bài viết Người kể chuyện trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam. Truyền kì Việt Nam đã có sự định hình thể loại về cả mặt nội dung và nghệ thuật. Truyền kì thường viết về các nhân vật đời thường.
Truyền kì phản ánh vấn đề cơ bản nhất của các nhân vật là tình yêu nam nữ. Nhìn chung, cho dù viết về loại nhân vật nào của cuộc sống đời thường, truyền kì luôn muốn truyền cái “kì” đến với người đọc. Về nghệ thuật, truyền kì đã tạo nên phong cách riêng của mình. Cốt truyện của thể loại này có thắt nút, phát triển và mở nút.
Truyền kì có thời gian và không gian vô định, nhân vật biến hóa phi phàm, nhiều mô típ kì ảo của văn học dân gian… Những đặc điểm nội dung và nghệ thuật độc đáo đã tạo nên truyền kì – một thể loại văn xuôi độc đáo của văn học Việt Nam. Nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại từ góc độ tác phẩm Với vai trò là tác phẩm khởi đầu và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất của truyền kì Việt Nam, Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) được đề cập hoặc phân tích nhiều lần trong nhiều bài viết, sách, luận án. Trong Giáo trình văn học trung đại Việt Nam (Lê Trí Viễn chủ biên), Truyền kì mạn lục được khái quát những vấn đề tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật. Tác phẩm này phê phán những bất công của xã hội phong kiến đang suy thoái, đề cao thái độ “lánh đục về trong”, đề cập đến tình yêu đôi lứa và phản ánh khát vọng hạnh phúc của con người cá nhân, thể hiện một tinh thần dân tộc mạnh mẽ đồng thời thể hiện sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tác giả.
Về nghệ thuật, Truyền kì mạn lục vừa có tính chất luận thuyết vừa có nhiều bài thơ trữ tình. Trong Văn học Việt Nam – Văn học trung đại những công trình nghiên cứu, bài 19 viết Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ của Nguyễn Phạm Hùng đã khẳng định các yếu tố hoang đường kì ảo trong tác phẩm chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nhận thức cuộc sống thực tế của con người. Nó chủ yếu là phương tiện nghệ thuật chứ không còn là mục đích miêu tả. Trong Văn học trung đại Việt Nam: thể loại, con người, ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Đinh Thị Khang có bài viết Nguyễn Dữ và “Truyền kì mạn lục” khẳng định tác phẩm này có tiếng nói phê phán hiện thực xã hội, tiếng nói cảm thông với số phận người phụ nữ và khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi.
Tác phẩm này sử dụng nhiều yếu tố kì ảo, chất luận thuyết, sử dụng nhiều thể tài như văn xuôi, thơ, văn biền ngẫu. Nhà nghiên cứu Lê Văn Tấn quan tâm đến loại hình tác giả nhà nho ẩn dật và số phận người phụ nữ trong tác phẩm Truyền kì mạn lục qua các bài viết “Truyền kì mạn lục” và sự thể hiện tư tưởng ẩn dật của Nguyễn Dữ, Thể nghiệm lối sống ẩn dật của Nguyễn Dữ qua truyện “Từ Thức lấy vợ tiên”, Quan điểm chính trị và lối sống ẩn dật của Nguyễn Dữ qua “Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na”, Số phận người phụ nữ trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ: nghiên cứu trường hợp Vũ Thị Thiết và Nhị Khanh, Nhà nho Nguyễn Dữ: trong tư cách là người phê bình (Lê Văn Tấn, 2019)… Một số nhà nghiên cứu khác quan tâm tác giả, bản dịch và một số vấn đề khác của Truyền kì mạn lục. Tiêu biểu là: - Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã có bài viết “Truyền kì mạn lục” có 20 hay 22 truyện ? và khẳng định bản ghi 20 truyện là chính xác nhất (Nguyễn Đăng Na, 2006). - Nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Châu quan tâm đến vấn đề thời gian của Truyền kì mạn lục qua bài viết Cấu trúc phức của thời gian trần thuật trong “Truyền kỳ mạn lục” (Nguyễn Kim Châu, 2013) - Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam nghi vấn về vấn đề tên gọi của tác giả Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự ? (Nguyễn Nam, 2002).
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hồng cũng cho rằng nên có chú thích là Nguyễn Tự cho tác giả Truyền kì mạn lục trong bài viết Vấn đề đọc tên tác giả “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Quang Hồng, 2003) 20 - Trong bài viết Một vài nghi vấn về bản “Truyền kì mạn lục” hiện đang lưu hành, nhà nghiên cứu Vũ Tố Hảo khẳng định bản Truyền kì mạn lục đang lưu hành có nhiều tác phẩm do người đời sau thêm vào (Vũ Tố Hảo, 1978) - Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam khẳng định việc đưa Chinh phụ ngâm vào tác phẩm Nam Xương nữ tử lục là kết quả của quá trình đưa các yếu tố ngoài văn bản vào văn bản một cách có ý thức nhằm tăng hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm (Nguyễn Nam, 2000) - Trong bài viết Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác “Truyền kì mạn lục”, nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng khẳng định Nguyễn Dữ là một nho sĩ, ẩn sĩ viết Truyền kì mạn lục trước năm 1525 (Nguyễn Phạm Hùng, 2006). - Nhà nghiên cứu Đinh Văn Minh trình bày quan điểm của ông về tác phẩm Tân biên Truyền kỳ mạn lục (Đinh Văn Minh, 1996) - Nhà nghiên cứu Kawamoto Kurive có bài viết Những vấn đề khác nhau liên quan đến “Truyền kỳ mạn lục” (Ngân Xuyên dịch) (Kawamoto Kurive, 1996) Bên cạnh những nghiên cứu về toàn bộ tập truyện, Truyền kì mạn lục còn được phân tích ở cấp độ từng truyện đối với một số truyện tiêu biểu. Trong Văn hóa tính dục ở Việt Nam thế kỉ X – XIX (Phạm Văn Hưng), Truyện kì ngộ ở trại Tây (thuộc Truyền kì mạn lục) được phân tích để cho thấy tác phẩm này có thái độ rất cởi mở, phóng khoáng đối với vấn đề tính dục.