Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Hoàng Thị Thùy Dương với đề tài "Truyền kì Việt Nam thời trung đại từ góc nhìn huyền thoại (đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại)" tập trung nghiên cứu sự hiện diện, nguồn gốc và ý nghĩa của các yếu tố huyền thoại trong thể loại truyền kì chữ Hán Việt Nam thời trung đại trên cơ sở so sánh với truyền kì Trung Hoa.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong thế kỷ XX, huyền thoại học phát triển với nhiều hệ thống lý thuyết (triết học, nhân học, cấu trúc luận, phân tâm học, biểu trưng học). Việc soi chiếu các lý thuyết huyền thoại vào tác phẩm văn học giúp nhận diện hình thái, chức năng gốc của yếu tố huyền thoại trong văn hóa nguyên thủy và sự chuyển hóa của chúng khi đi vào văn bản nghệ thuật. Truyện truyền kì là thể loại tự sự trung đại kết hợp ghi chép hiện thực và yếu tố hư cấu, phản ánh hiện thực xã hội và đời sống tâm lý cá nhân. Truyền kì Việt Nam trước đây chủ yếu được tiếp cận dưới các góc độ xã hội học, thi pháp học, tiếp nhận thể loại hoặc so sánh văn học. Việc khảo sát truyền kì Việt Nam thời trung đại một cách hệ thống từ góc nhìn huyền thoại học, đồng thời đối chiếu với truyền kì Trung Hoa, vẫn là một khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết trọn vẹn. Bên cạnh đó, các tác phẩm truyền kì chiếm vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông (Ngữ văn THCS, THPT) và chương trình đào tạo đại học, cao đẳng ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn. Việc giải mã các yếu tố huyền thoại đáp ứng yêu cầu giảng dạy tích hợp liên ngành văn học, lịch sử và văn hóa.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ sự có mặt, nguồn gốc và ý nghĩa của các yếu tố huyền thoại trong truyền kì Việt Nam thời trung đại; đối chiếu với thần thoại để xác định sự kế thừa và biến đổi hình thái, chức năng; đối chiếu với truyền kì Trung Hoa nhằm làm rõ tính tương đồng, dị biệt và bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung:
- Khảo sát tổng quan tình hình nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại và xác định hướng tiếp cận của đề tài.
- Phân tích các đặc điểm chủ yếu của huyền thoại và sự thể hiện huyền thoại trong văn học Việt Nam.
- Phân tích truyền kì Việt Nam thời trung đại từ phương diện tư duy huyền thoại và phương diện nghệ thuật biểu hiện huyền thoại trên cơ sở đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Yếu tố huyền thoại trong các tác phẩm truyền kì của Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại.
- Phạm vi tư liệu khảo sát:
- Văn bản truyền kì Việt Nam: Khảo sát chính trên văn bản Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1, 2; Trần Nghĩa chủ biên, NXB Thế giới, 1997), gồm 7 tác phẩm: Thánh Tông di thảo (khuyết danh/Lê Thánh Tông ?), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kì lục (Phạm Quý Thích), Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục), Truyện kí trích lục (Khuyết danh), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh). Bộ tuyển tập Truyện truyền kỳ Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1999) gồm 262 truyện được sử dụng làm tài liệu tham khảo, đối chiếu.
- Văn bản truyền kì Trung Hoa: Khảo sát các tập Đường đại truyền kì (Phùng Quý Sơn biên soạn, NXB Đồng Nai, 1995), Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu, NXB Văn học, 1999) và Liêu trai chí dị (Bồ Tùng Linh; Tản Đà, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Văn Huyền dịch, NXB Văn học, 2008).
- Hệ thống thần thoại: Thần thoại Việt Nam làm hệ thống đối sánh gốc, kết hợp tham khảo thần thoại Trung Hoa và thế giới.
- Phạm vi thời gian: Văn học thời trung đại (tập trung từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX đối với Việt Nam; thời Đường, Minh, Thanh đối với Trung Hoa).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại qua 4 hướng tiếp cận chính:
1. Nghiên cứu truyền kì Việt Nam từ góc độ thể loại
- Về tên gọi và vị trí thể loại: Trần Đình Sử xếp truyện truyền kì thuộc thể loại truyện chữ Hán bên cạnh tiểu thuyết chương hồi và truyện thần linh, kì quái; Biện Minh Điền xem truyền kì vừa là thể loại vừa là một xu hướng tự sự; Nguyễn Huệ Chi khẳng định truyền kì là loại hình văn xuôi nghệ thuật có sự tham gia đậm nét của yếu tố kì ảo, kết hợp thơ ca và văn biền ngẫu; Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) xác định truyền kì là thể loại tự sự ngắn cổ điển bắt nguồn từ đời Đường; Đinh Phan Cẩm Vân chỉ ra nguồn gốc truyền kì từ chí quái Lục triều; Trần Nghĩa phân định truyền kì gắn với "tác ý hiếu kì", dùng hư bút có ý thức để gửi gắm tâm sự; Trần Ích Nguyên, Nguyễn Phúc An, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Quang Ân khảo sát hệ thống thư tịch truyền kì; Nguyễn Đăng Na xem truyền kì là thể tài của truyện ngắn trung đại; Đinh Thị Khang xếp vào bộ phận văn học nghệ thuật; Trần Nho Thìn phân loại truyện ngắn trung đại theo nguồn gốc cốt truyện và kiểu nhân vật; Bùi Việt Thắng, Bùi Duy Tân, Vũ Thanh, Vương Tiểu Thuẫn, Nguyễn Văn Dân, Lâm Giang, Nguyễn Văn Tuân định danh qua các khái niệm truyện kì ảo, đoản thiên văn ngôn, văn xuôi huyễn tưởng hay truyện ký.
- Về tiến trình lịch sử: Nguyễn Đăng Na chia văn xuôi tự sự trung đại thành 3 giai đoạn: TK X–XIV (chuẩn bị qua văn học dân gian và văn học chức năng như Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái), TK XV–XVI (phát triển với Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo), TK XVIII–XIX (xu hướng canh tân, tăng tính hiện thực lịch sử, giảm yếu tố kì ảo); Đinh Thị Khang, Lê Trí Viễn, Phan Cự Đệ, Nguyễn Nam, B. Riftin cùng phân tích tiến trình vận động thể loại.
- Về đặc trưng nội dung và nghệ thuật: S. Nekliudov, Lã Nhâm Thìn, Phạm Văn Hưng (đề tài tính dục), Trần Đình Sử (cái kì trong tình yêu và thế giới thần ma), Đỗ Thị Mỹ Phương (nghiên cứu tổ chức cốt truyện tuyến tính, lồng ghép, lắp ghép, hồi cố và các kiểu nhân vật).
2. Nghiên cứu truyền kì Việt Nam từ góc độ tác phẩm
- Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ): Các công trình nghiên cứu của Lê Trí Viễn, Nguyễn Phạm Hùng, Đinh Thị Khang, Lê Văn Tấn (hình tượng nhà nho ẩn dật, thân phận phụ nữ), Nguyễn Đăng Na (văn bản học: số lượng 20 hay 22 truyện; bi kịch nhân vật Vũ Thị Thiết), Nguyễn Kim Châu (thời gian trần thuật), Nguyễn Nam, Nguyễn Quang Hồng (vấn đề định danh tác giả Nguyễn Dữ/Nguyễn Tự), Vũ Tố Hảo (văn bản lưu hành), Kawamoto Kurive, Phan Cự Đệ.
- Thánh Tông di thảo: Các nghiên cứu của Nguyễn Đổng Chi, Bùi Duy Tân, Vũ Thanh, Phạm Ngọc Lan, Lê Nhật Ký, N. Nikulin, Trần Thị Băng Thanh, Trần Bá Chí, Nguyễn Nam.
- Các tác phẩm khác: Nghiên cứu về Truyền kì tân phả (Trần Thị Băng Thanh), Nam thiên trân dị tập (Trần Nghĩa), Lĩnh Nam chích quái (Bùi Văn Nguyên), Vân nang tiểu sử (Nguyễn Kim Oanh), Kiến văn lục (Nguyễn Cẩm Thúy), Tang thương ngẫu lục (Trần Đình Việt).
3. Nghiên cứu truyền kì Việt Nam từ góc độ so sánh
- So sánh nội bộ và thể loại liên quan: Trần Đình Sử so sánh truyền kì với truyện sử; so sánh Truyền kì tân phả và Truyền kì mạn lục; Nguyễn Hữu Sơn so sánh Nam Ông mộng lục với Đại Việt sử kí toàn thư.
- So sánh truyền kì Việt Nam và Trung Hoa: Tập trung so sánh Truyền kì mạn lục và Tiễn đăng tân thoại (Trần Nghĩa, Trần Ích Nguyên, Đinh Phan Cẩm Vân, Nguyễn Xuân Hòa, Nhan Bảo, Phạm Tú Châu, Đinh Thị Khang).
- So sánh truyền kì khu vực Đông Á: Mối quan hệ giữa truyền kì Việt Nam, Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản qua các tác phẩm Tiễn đăng tân thoại, Kim Ngao tân thoại, Vũ nguyệt vật ngữ, Ngự già tỳ tử (Đoàn Lê Giang, Kim Kihyun, Hà Thanh Vân, Kim Seona, Phan Nguyễn Phước Tiên, B. Riftin, Jeon Kye Kyung, Lưu Thị Hồng Việt).
4. Nghiên cứu truyền kì Việt Nam từ góc độ văn hóa dân gian
Các công trình làm rõ ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo, Phật giáo và các yếu tố kì ảo: Đinh Thị Khang, Vũ Thanh, Trần Nghĩa, Lê Đắc Tường, Nguyễn Hữu Sơn, Lê Dương Khắc Minh, Trần Thị An, Nguyễn Ngọc Hiệp, Lê Thu Yến (giá trị hiện thực của yếu tố tâm linh), Bùi Thanh Truyền (hình tượng nhân vật ma), Nguyễn Thị Mai Liên (mô típ mộng ảo), Nguyễn Thị Kim Ngân (dịch chuyển không gian), Lê Thị Hồng Nhạn.
| Hướng nghiên cứu chính |
Tác giả tiêu biểu |
Trọng tâm khảo sát |
| Thể loại học |
Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Huệ Chi, Đinh Phan Cẩm Vân, Đỗ Thị Mỹ Phương |
Khái niệm, danh xưng, tiến trình lịch sử, thi pháp thể loại |
| Tác phẩm cụ thể |
Lê Trí Viễn, Bùi Duy Tân, Nguyễn Phạm Hùng, Lê Văn Tấn, N. Nikulin |
Cốt truyện, tư tưởng, văn bản học Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo |
| So sánh văn học |
Trần Ích Nguyên, Phạm Tú Châu, Đoàn Lê Giang, Kim Kihyun, Jeon Kye Kyung |
Đối chiếu Truyền kì mạn lục với Tiễn đăng tân thoại, Kim Ngao tân thoại, Vũ nguyệt vật ngữ |
| Văn hóa dân gian |
Trần Nghĩa, Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thị Kim Ngân, Lê Thu Yến |
Yếu tố tâm linh, biểu tượng ma quỷ, không gian folklore, tôn giáo |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu xem xét yếu tố kì ảo như một thủ pháp nghệ thuật hoặc một thành tố văn hóa dân gian đơn lẻ. Luận án đặt yếu tố kì ảo trở về cội nguồn bản thể là huyền thoại học, phân tích truyền kì Việt Nam thời trung đại trên cả hai bình diện: phương diện tư duy huyền thoại và phương diện nghệ thuật biểu hiện huyền thoại, đồng thời đặt trong thế đối chiếu có hệ thống với truyền kì Trung Hoa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết huyền thoại học hiện đại kết hợp thi pháp học văn học:
- Lý thuyết cấu trúc: Tiếp thu quan điểm của C. Lévi-Strauss về cấu trúc thần thoại, xem huyền thoại là công cụ logic giải quyết các mâu thuẫn xã hội/tự nhiên thông qua các cặp đối lập nhị phân (trời/đất, đực/cái, thiêng/phàm).
- Lý thuyết nhân học văn hóa: Tiếp thu luận điểm của E. Tylor về thuyết vạn vật hữu linh (animism) và bản chất tôn giáo nguyên thủy của huyền thoại.
- Lý thuyết phân tâm học: Tiếp thu quan niệm của C. G. Jung về vô thức tập thể và hệ thống cổ mẫu (archetypes); quan điểm của S. Freud về sự chuyển hóa xung năng tâm lý.
- Lý thuyết thi pháp học huyền thoại: Vận dụng quan điểm của E. Meletinsky (Thi pháp của huyền thoại), E. Count, Chu Xuân Diên, Đào Ngọc Chương nhằm sử dụng các phạm trù thi pháp (nhân vật, cốt truyện, mô típ, không gian, thời gian) để phân tích các thành tố huyền thoại trong văn bản tự sự.
- Các quan điểm triết học và văn hóa học bổ trợ: Tư duy phức hợp và tư duy tượng trưng (E. Morin), hệ thống ký hiệu học của huyền thoại (R. Barthes), cái thiêng và cái phàm (M. Eliade), tư duy tiền logic và luật thông quan/tham dự (L. Lévy-Bruhl), con người là động vật biểu tượng và mô hình vũ trụ (E. Cassirer), phê bình nghi lễ - huyền thoại (N. Frye), quan niệm phân biệt huyền thoại và truyện cổ tích (S. Langer, G. Róheim, P. Sellier).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phê bình huyền thoại (chủ đạo): Đưa các yếu tố kì ảo trong văn bản truyền kì về cội nguồn thần thoại nguyên thủy; khảo sát sự di chuyển, biến đổi hình thái và chức năng của các yếu tố huyền thoại từ thần thoại sang văn bản văn học viết.
- Phương pháp phê bình lịch sử - xã hội: Phân tích bối cảnh lịch sử, xã hội, ý thức hệ tác động đến quá trình sáng tác và tiếp nhận truyền kì.
- Phương pháp phê bình thi pháp học: Mô hình hóa văn bản, giải cấu trúc và phân tích các thành phần nghệ thuật (cổ mẫu, mô típ, không gian, thời gian trần thuật).
- Các thao tác nghiên cứu:
- Phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa tư liệu lý thuyết và văn bản tác phẩm.
- So sánh - đối chiếu: Đối chiếu giữa thần thoại và truyền kì; đối chiếu giữa truyền kì Việt Nam và truyền kì Trung Hoa.
- Thống kê - phân loại: Phân loại các nhóm nhân vật, cổ mẫu, mô típ huyền thoại xuất hiện trong ngữ liệu khảo sát.
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
| Nhóm tư liệu |
Tác phẩm / Văn bản khảo sát |
Tác giả / Đơn vị xuất bản |
| Truyền kì Việt Nam (Khảo sát chính) |
Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Tân truyền kì lục, Vân nang tiểu sử, Truyện kí trích lục, Lan Trì kiến văn lục |
Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1, 2; Trần Nghĩa chủ biên, NXB Thế giới, 1997) |
| Truyền kì Việt Nam (Tham khảo đối chiếu) |
Tuyển tập Truyện truyền kỳ Việt Nam (Quyển 2: tập III, IV; Quyển 3: tập V, VI) |
Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1999 |
| Truyền kì Trung Hoa (Khảo sát đối chiếu) |
Đường đại truyền kì Tiễn đăng tân thoại Liêu trai chí dị |
Phùng Quý Sơn (NXB Đồng Nai, 1995) Cù Hựu (NXB Văn học, 1999) Bồ Tùng Linh (NXB Văn học, 2008) |
| Hệ thống thần thoại gốc |
Thần thoại Việt Nam, thần thoại Trung Hoa và thế giới |
Các tuyển tập thần thoại và công trình folklore |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại và hướng tiếp cận của đề tài
Chương này tổng kết có hệ thống các nghiên cứu về truyền kì Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX qua 4 hướng tiếp cận: góc độ thể loại (tên gọi, tiến trình nảy sinh - phát triển - thoái trào, đặc trưng thi pháp); góc độ tác phẩm (khảo sát văn bản học và giá trị tư tưởng của Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo cùng các tập truyền kì hậu kỳ); góc độ so sánh (đối chiếu nội bộ thể loại, đối chiếu với truyện sử, đối chiếu với Tiễn đăng tân thoại của Trung Hoa và tiểu thuyết truyền kì Đông Á); góc độ văn hóa dân gian (mối quan hệ giữa truyền kì với folklore, tôn giáo, tín ngưỡng và các yếu tố tâm linh). Trên cơ sở xác định khoảng trống nghiên cứu, chương 1 thiết lập khung lý thuyết tiếp cận đề tài dựa trên sự kết hợp giữa phê bình huyền thoại, lý thuyết cấu trúc, nhân học, phân tâm học và thi pháp học.
Chương 2: Huyền thoại và sự thể hiện huyền thoại trong văn học Việt Nam
Chương 2 trình bày bản chất của huyền thoại và cơ chế chuyển hóa của huyền thoại vào văn học viết:
- Bản chất tư duy huyền thoại: Phân tích đặc trưng tư duy nguyên hợp, tư duy tượng trưng và cơ chế đồng nhất các phạm trù trong thần thoại:
- Sự đồng nhất tự nhiên và siêu nhiên: Thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên (ông trời, thần đất, thần biển/rùa khổng lồ tạo thủy triều, thần sét, thần mưa, thần núi, thần nước, thần gió, thần lửa, thần lúa, thần vàng...).
- Sự đồng nhất con người và siêu nhiên: Quan niệm vạn vật hữu linh, sự tương thông giữa thế giới thần linh và đời sống con người.
- Sự đồng nhất con người và tự nhiên: Xóa nhòa ranh giới giữa chủ thể và khách thể.
- Sự đồng nhất khởi đầu và nguyên nhân: Lý giải nguồn gốc vũ trụ và nhân loại thông qua các truyện kể khởi nguyên mang tính suy nguyên luận.
- Sự dung chứa các cổ mẫu và nghệ thuật huyền thoại: Phân tích cơ sở vô thức tập thể, hệ thống biểu tượng thiêng và phương thức trần thuật huyền thoại.
- Sự thể hiện huyền thoại trong tiến trình văn học Việt Nam: Khảo sát đường đi của huyền thoại từ văn học dân gian (thần thoại nguyên thủy chuyển hóa sang truyền thuyết, truyện cổ tích thần kì) đến văn học trung đại và văn học hiện đại sau năm 1986.
Chương 3: Truyền kì Việt Nam thời trung đại – nhìn từ phương diện tư duy huyền thoại (đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại)
Chương 3 đi sâu khảo sát sự kế thừa và chuyển hóa của tư duy huyền thoại trong truyền kì Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với truyền kì Trung Hoa:
- Thần thánh hóa các nhân vật của dân gian:
- Nhân vật lịch sử: Sự thiêng hóa các anh hùng dân tộc, nhân vật lịch sử thành thần linh phù trợ đất nước (thể hiện ý thức độc lập tự chủ và niềm tin tâm linh của người Việt).
- Nhân vật tôn giáo: Tích hợp hình tượng thần, tiên, đạo sĩ, thiền sư của Tam giáo (Nho - Phật - Đạo), phản ánh hiện tượng tam giáo đồng nguyên.
- Tái sinh các cổ mẫu:
- Cổ mẫu thần: Chuyển hóa từ các vị thần sáng tạo tự nhiên nguyên thủy sang các thần bảo trợ cộng đồng, thần công lý trừng phạt cái ác.
- Cổ mẫu yêu ma: Khảo sát hình tượng ma nữ, yêu tinh cây cỏ, ma quỷ phản ánh nỗi ám ảnh tâm lý, bản năng tự nhiên và những ẩn ức bị kìm nén của con người.
- Cổ mẫu nước: Biểu tượng của sự sống, sự tẩy rửa, ranh giới sinh - tử và lối vào thế giới thần bí (thủy cung).
- Cổ mẫu đêm: Không gian - thời gian của vô thức, của những cuộc hội ngộ kì ảo, tình ái ma mị và sự giải phóng bản năng cá nhân.
Chương 4: Truyền kì Việt Nam thời trung đại – nhìn từ phương diện nghệ thuật biểu hiện huyền thoại (đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại)
Chương 4 khảo sát các phương thức nghệ thuật xây dựng văn bản truyền kì dưới lăng kính thi pháp huyền thoại:
- Mô típ huyền thoại trong truyền kì Việt Nam thời trung đại:
- Mô típ hiển linh: Thần linh, hồn ma xuất hiện để báo mộng, can thiệp vào hiện thực hoặc thực thi công lý.
- Mô típ biến hình: Con người hóa thành thần, nhập xác ma quỷ, hoặc đồ vật/loài vật biến hóa thành người.
- Mô típ chinh phục cái chết: Sự hồi sinh, đầu thai, hoặc tiếp tục sự sống ở cõi âm/thủy phủ.
- Mô típ kết duyên kì lạ: Hôn nhân giữa người trần và tiên nữ, ma nữ, thủy thần, tinh hoa cây cỏ.
- Không gian huyền thoại trong truyền kì Việt Nam thời trung đại:
- Không gian đồng hiện thực giới và hư giới: Sự xóa nhòa ranh giới giữa cõi trần và cõi âm/cõi tiên/thủy phủ trong cùng một trường trần thuật.
- Không gian đồng hiện trung tâm thần thiêng và ngoại vi thế tục: Cấu trúc không gian chuyển dịch từ đền đài, miếu mạo linh thiêng đến không gian sinh hoạt đời thường của thị dân, làng quê.
- Thời gian huyền thoại trong truyền kì Việt Nam thời trung đại:
- Thời gian đồng hiện đồng đại: Sự song hành giữa thời gian thực tế lịch sử và thời gian phi tuyến tính của cõi tiên, giấc mộng.
- Thời gian đồng hiện lịch đại: Sự kết nối quá khứ lịch sử, hiện tại trần thế và tương lai vĩnh hằng thông qua các nhân vật lịch sử và truyện kể luân hồi.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về phương diện tư liệu và phân loại: Luận án tiến hành nhận diện, thống kê và phân loại có hệ thống các yếu tố huyền thoại (cổ mẫu, mô típ, không gian, thời gian) trong 7 tập truyền kì tiêu biểu của Việt Nam và các tác phẩm truyền kì Trung Hoa tương ứng.
- Về phương diện phương pháp luận: Vận dụng phối hợp lý thuyết huyền thoại học (cấu trúc luận, nhân học, phân tâm học) và thi pháp học để phân tích văn xuôi tự sự trung đại, đưa các yếu tố kì ảo về bản thể nguồn cội thần thoại thay vì chỉ xem xét như thủ pháp nghệ thuật bề mặt.
- Về kết quả so sánh nội bộ (Thần thoại - Truyền kì): Luận án xác định sự tương đồng và khác biệt giữa hình thái, chức năng của huyền thoại trong thần thoại nguyên thủy và trong truyền kì; chỉ ra quá trình giải thiêng, thế tục hóa và sự khúc xạ của ý thức cá nhân, dấu ấn thời đại trong sáng tạo của các nhà văn trung đại.
- Về kết quả so sánh đối chiếu (Việt Nam - Trung Hoa): Làm rõ sự giao thoa văn hóa khu vực Đông Á cùng bản sắc riêng của truyền kì Việt Nam (tính gắn kết lịch sử dân tộc, ý thức khẳng định chủ quyền, tâm thức thờ Mẫu, tín ngưỡng bản địa).
- Đóng góp thực tiễn: Công trình cung cấp hệ thống luận điểm khoa học phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên đề văn học trung đại, lý luận văn học và văn học so sánh tại các cơ sở giáo dục đại học và phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về nguồn văn bản khảo sát: Phạm vi văn bản truyền kì Việt Nam tập trung chủ yếu vào 7 tập truyện trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1, 2 do Trần Nghĩa chủ biên). Bộ tuyển tập quy mô lớn Truyền kì Việt Nam gồm 3 quyển 6 tập do GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên tại thời điểm thực hiện luận án mới chỉ xuất bản quyển 2 (tập III, IV) và quyển 3 (tập V, VI), do đó chưa thể khảo sát toàn diện toàn bộ 262 truyện như một nguồn tư liệu chính mà chỉ dùng để tham khảo, đối chiếu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát toàn bộ các tác phẩm phỏng truyền kì, truyền kì hậu kỳ trong kho tàng văn bản Hán Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX khi có đủ văn bản xuất bản.
- Mở rộng phạm vi đối chiếu huyền thoại học sang các nền văn học khác trong khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á như Kim Ngao tân thoại (Triều Tiên/Hàn Quốc) và Vũ nguyệt vật ngữ (Nhật Bản).
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp mô hình ứng dụng lý thuyết phê bình huyền thoại và thi pháp học vào văn bản văn học trung đại Việt Nam; cung cấp tài liệu tham cứu về cấu trúc cổ mẫu và mô típ kì ảo trong văn xuôi chữ Hán.
- Đối với giảng viên đại học, cao đẳng ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các học phần: Văn học Việt Nam trung đại, Thi pháp học, Văn học so sánh, Folklore và văn học viết.
- Đối với giáo viên Ngữ văn phổ thông: Cung cấp tri thức nền tảng để giải mã các văn bản truyền kì trong chương trình giáo dục phổ thông (như các thiên truyện trích từ Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo), đáp ứng định hướng giảng dạy tích hợp văn học với lịch sử và văn hóa tâm linh dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát các tập truyện truyền kì Việt Nam nào làm nguồn tư liệu chính?
Luận án khảo sát chính trên 7 tập truyện truyền kì in trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1, 2; Trần Nghĩa chủ biên, NXB Thế giới, 1997), bao gồm: Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông ?), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kì lục (Phạm Quý Thích), Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục), Truyện kí trích lục (Khuyết danh) và Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh).
2. Các lý thuyết huyền thoại học chính nào được tác giả ứng dụng trong công trình?
Tác giả ứng dụng 4 hệ thống lý thuyết chính: (1) Lý thuyết cấu trúc luận của C. Lévi-Strauss (cấu trúc thần thoại, logic nhị phân); (2) Lý thuyết nhân học của E. Tylor (quan niệm vạn vật hữu linh); (3) Lý thuyết phân tâm học của C. G. Jung (vô thức tập thể, hệ thống cổ mẫu); (4) Lý thuyết thi pháp học của E. Meletinsky, E. Count và Chu Xuân Diên (mô típ, cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian).
3. Tư duy huyền thoại trong truyền kì Việt Nam được khảo sát qua những phương diện cụ thể nào?
Tư duy huyền thoại được luận án khảo sát qua hai nội dung lớn: (1) Sự thần thánh hóa các nhân vật của dân gian, chia thành nhân vật lịch sử và nhân vật tôn giáo; (2) Sự tái sinh các cổ mẫu nguyên thủy, gồm cổ mẫu thần, cổ mẫu yêu ma, cổ mẫu nước và cổ mẫu đêm.
4. Những mô típ nghệ thuật biểu hiện huyền thoại nào được luận án phân tích và đối chiếu?
Luận án phân tích 4 mô típ huyền thoại tiêu biểu: (1) Mô típ hiển linh; (2) Mô típ biến hình; (3) Mô típ chinh phục cái chết; (4) Mô típ kết duyên kì lạ (hôn nhân giữa người trần với thần tiên, ma quỷ, tinh vật).
5. Vì sao bộ tuyển tập "Truyện truyền kỳ Việt Nam" của GS. Nguyễn Huệ Chi chỉ được dùng làm tài liệu tham khảo đối chiếu?
Tại thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, bộ tuyển tập Truyện truyền kỳ Việt Nam (gồm 3 quyển, 6 tập) do GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên mới chỉ xuất bản quyển 2 (tập III, IV) và quyển 3 (tập V, VI), chưa xuất bản trọn vẹn toàn bộ công trình. Do đó, tác giả không thể sử dụng bộ sách này làm văn bản khảo sát chính thức mà sử dụng làm tài liệu tham khảo để đối chiếu với nguồn khảo sát chính.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Thùy Dương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại dưới góc nhìn huyền thoại học trên cơ sở đối chiếu với truyền kì Trung Hoa. Bằng việc kết hợp phương pháp phê bình huyền thoại, phê bình thi pháp học và phê bình lịch sử - xã hội, luận án đã làm rõ sự kế thừa, chuyển hóa của tư duy huyền thoại và các hình thức biểu hiện nghệ thuật (cổ mẫu, mô típ, không gian, thời gian) trong văn bản tự sự trung đại. Kết quả nghiên cứu khẳng định bản sắc dân tộc và tính chủ động, sáng tạo của các tác giả truyền kì Việt Nam trong quá trình tiếp nhận mô hình thể loại từ Trung Hoa, đồng thời đóng góp nguồn ngữ liệu và khung phân tích có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học trung đại.