Luận Văn Thạc Sĩ: Khám Phá Truyện Kể Dân Gian Tày Tại Ba Bể, Bắc Kạn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu truyện kể dân gian Tày tại Ba Bể, Bắc Kạn, phân tích giá trị văn hóa, nghệ thuật và ý nghĩa xã hội của truyền thống này.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

127
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Luận Văn Thạc Sĩ và Truyện Kể Dân Gian Tày

Luận Văn Thạc Sĩ của tác giả Nông Thị Uyên tập trung vào nghiên cứu truyện kể dân gian Tày tại Ba Bể, Bắc Kạn. Đây là một công trình nghiên cứu chi tiết nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Tày. Luận văn không chỉ khảo sát các tác phẩm văn học mà còn phân tích sâu về ngôn ngữ dân tộc, tập quán, và truyền thuyết gắn liền với đời sống của người Tày. Công trình này đóng góp quan trọng vào việc hiểu biết về di sản văn hóavăn học dân gian của các dân tộc thiểu số Việt Nam.

1.1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em. Dân gian TàyBa Bể, Bắc Kạn có nét văn hóa độc đáo, góp phần làm nên bản sắc chung của văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu truyện kể dân gian không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nhằm khảo sát, phân tích và hệ thống hóa các truyện kể dân gian Tày tại Ba Bể, Bắc Kạn. Qua đó, làm rõ giá trị văn hóa dân gian, tập quán, và truyền thuyết của dân tộc Tày, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị này trong bối cảnh hiện đại.

II. Tổng quan về Tộc Người Tày ở Ba Bể Bắc Kạn

Ba Bể, Bắc Kạn là vùng đất có lịch sử lâu đời, nơi hội tụ nhiều dân tộc anh em, trong đó dân gian Tày chiếm đa số. Văn hóa Tày tại đây được thể hiện qua các truyện kể dân gian, tập quán, và truyền thuyết. Luận văn đã khảo sát và phân tích các yếu tố này, làm nổi bật sự đa dạng và phong phú của văn hóa dân gian Tày.

2.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Ba Bể được biết đến với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nơi người Tày sống hòa hợp với thiên nhiên. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa dân giantruyện kể dân gian của họ.

2.2. Diện mạo văn học dân gian Tày

Văn học dân gian Tày tại Ba Bể bao gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, và truyện cổ tích. Các tác phẩm này phản ánh nhận thức nguyên sơ của người Tày về lịch sử, địa lý, và văn hóa.

III. Phân tích Truyện Kể Dân Gian Tày

Luận văn đi sâu vào phân tích các truyện kể dân gian Tày tại Ba Bể, Bắc Kạn, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, và truyện cổ tích. Qua đó, làm rõ mối quan hệ giữa các truyện kể với tập quán, lễ hội, và tín ngưỡng của người Tày.

3.1. Thần thoại Tày

Thần thoại Tày phản ánh nhận thức của người Tày về nguồn gốc vũ trụ và con người. Các truyện kể này thường gắn liền với các nghi lễ và tập quán dân gian.

3.2. Truyền thuyết Tày

Truyền thuyết Tày kể về các nhân vật lịch sử và sự kiện quan trọng của cộng đồng. Các truyện kể này thường được lưu truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc Tày.

IV. Giá trị và Ứng dụng của Luận Văn

Luận Văn Thạc Sĩ của Nông Thị Uyên không chỉ có giá trị học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian Tày. Công trình này là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, giáo viên, và những người quan tâm đến di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số Việt Nam.

4.1. Giá trị học thuật

Luận văn cung cấp một cái nhìn toàn diện và hệ thống về truyện kể dân gian Tày, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Công trình này có thể được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu về văn hóa dân gian, đồng thời là cơ sở để đề xuất các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc Tày.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ truyện kể dân gian tày ở ba bể bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN Ai lên Ba Bể mà xem Động Puông Ba Bể nơi tiên chơi cờ Sông năng nước chảy lững lờ Đầu Đẳng thác trắng đôi bờ cây xanh (Ca dao cổ truyền) Ba Bể được biết đến không chỉ là một huyện vùng núi cao thuộc tỉnh Bắc Kạn với quần thể danh thắng hồ Ba Bể nổi tiếng mà còn được biết đến như một vùng huyền thoại về văn hóa dân gian. Tạo nên vùng văn hóa dân gian đặc sắc ấy có sự góp phần không nhỏ của tộc người Tày như trong phần lời nói đầu giới thiệu về Truyện cổ Bắc Kạn (tập 3), tác giả Vũ Anh Tuấn đã viết: “Quần thể núi hồ Ba Bể là một danh thắng của vùng Việt Bắc nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, một điểm hội tụ tinh hoa trung tâm văn hóa Tày - Thái cổ trên vùng văn hóa dân gian Bắc Kạn” [50; tr. Do điều kiện sinh sống tự nhiên, đời sống văn hóa cũng như các phong tục tập quán, tín ngưỡng mang đặc trưng vùng miền nên dân tộc Tày nơi đây vừa có những nét tương đồng nhưng cũng có nét khác biệt so với dân tộc Tày ở một số địa phương khác. Tộc người Tày huyện Ba Bể đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc, góp phần tạo nên sức sống và sức lưu truyền văn hóa dân gian nói chung, truyện kể dân gian nói riêng của địa phương mình.

Vì vậy, nghiên cứu truyện kể dân gian dân tộc Tày huyện Ba Bể, chúng tôi nhận thấy, việc tìm hiểu tổng quan về tộc người Tày ở huyện Ba Bể cũng như những điều kiện tự nhiên - xã hội của địa phương này là điều cần thiết bởi đó chính là nền tảng hình thành nên kho tàng truyện kể dân gian của họ. Bên cạnh đó, để có cơ sở vững chắc cho vấn đề nghiên cứu chúng tôi cũng tìm hiểu một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài. Khái lược về vùng đất và con người ở Ba Bể, Bắc Kạn 1. Đặc điểm về tự nhiên - xã hội 1.

Đặc điểm tự nhiên Bắc Kạn là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc của tổ quốc, địa hình nơi đây chủ yếu là đồi núi cao. Bắc Kạn được tái lập tỉnh ngày 01/01/1997, gồm có 7 huyện: Chợ Mới, Na Rì, Chợ Đồn, Phủ Thông, Ngân Sơn, Ba Bể, Pác Nặm và thành phố Bắc Kạn. Trong đó, huyện Ba Bể nằm ở phía Đông Bắc và là huyện vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 60km về phía Bắc. Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp huyện Chợ Đồn và huyện Bạch Thông, Phía Bắc giáp huyện Pác Nặm và tỉnh Cao Bằng.

Địa bàn huyện Ba Bể hiện nay, vào thời nhà Lí thuộc về đất huyện Vĩnh Thông; đến thời nhà Lê thì Ba Bể thuộc châu Bạch Thông thuộc phủ Thông Hóa. Huyện lị Ba Bể chính là thi trấn Chợ Rã và đồng bào nơi đây còn gọi bằng một cái tên khác đó là Chợ Slo. Xuất hiện sớm trong lịch sử, tên gọi Chợ Rã đã được nêu trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sau đó được nêu trong Đại Nam nhất thống chí, trong mục Thái Nguyên thổ sản. Huyện Ba Bể có diện tích tự nhiên là 68.421 ha, chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp (trên 80%), đất nông nghiệp khoảng10%.

Địa hình chủ yếu của địa phương này là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở. Những khối núi đá vôi này có niên đại hơn 450 triệu năm do quá trình kiến tạo địa chất cacxtơ đã tạo thành những hình dáng kì thú, đặc trưng là dãy núi Phja Bjooc chạy dài theo hướng Đông - Nam có độ cao 1578m. Ngoài ra, Ba Bể còn có các dãy núi chạy theo nhiều hướng thấp dần từ bắc sang đông nam hình thành nên khá nhiều thung lũng nhỏ với địa hình phức tạp. Địa hình Ba Bể xét về tổng quan có thể thấy được chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng núi thấp và vùng núi cao.

Vùng núi thấp xen kẽ đồng ruộng tập trung ở khu trung tâm và hướng nam. Vùng này thích hợp cho trồng các loại cây lương thực như các loại cây họ đậu, lúa nước, cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm và tiểu gia súc. Vùng núi cao tập trung chủ yếu là các dãy núi đá cao, có độ dốc lớn xen kẽ là những khu ruộng bậc thang của đồng bào các dân 16 tộc thiểu số. Vùng núi cao này chủ yếu nằm ở hướng Tây - Tây Bắc và Đông Bắc.

Đất canh tác chủ yếu là nương rẫy thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực cạn như ngô, khoai, sắn hoặc lúa nương và chăn nuôi đại gia súc. Ở vùng này có vườn quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiên vô cùng quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh có diện tích 23.340 ha trên núi đá vôi phong phú với thảm thực vật và các hệ động vật quý hiếm. Về thực vật có tới 417 loài, trong đó có nhiều loại gỗ quý hiếm như: lim, nghiến, lát, đinh…và nhiều cây dược liệu quý hiếm cùng hàng trăm loài địa lan, phong lan. Về động vật cũng vô cùng phong phú, với 299 loài động vật có xương sống.

Cùng với đó, hồ Ba Bể gắn liền với dòng sông Năng và hệ thống hang động do cuộc kiến tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỉ Camri cách đây hơn 200 triệu năm đã hình thành nên cảnh quan địa chất độc đáo. Hồ có những đoạn hơi eo lại bởi những dãy núi đá vôi chia cắt mặt hồ thành 3 bể lớn theo tiếng địa phương là Pé Lù, Pé Lầm và Pé Lèng có lẽ vì thế mới có tên gọi là hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể nằm ở độ cao 145m so với mực nước biển, có diện tích mặt hồ khoảng 500ha, chiều dài hơn 8km, chỗ rộng nhất khoảng 3km, độ sâu trung bình của hồ là 20m đến 35m, dung tích 90 triệu m3nước. Hồ Ba Bể là nơi đổ vào của 3 con sông chính: sông Chợ Lùng đổ vào hồ tại bản Pác Ngòi; sông Tả Han bắt nguồn từ Xuân Lạc - Chợ Đồn đổ vào phía Tây hồ ở bản Cốc Tộc; suối Nam Cường từ phía Bắc huyện Chợ Đồn đổ vào hồ tại bản Bó Lù.

Xung quanh hồ là quần thể du lịch như động Puông, động Hua Mạ, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên, Gò bà góa (Pò Giả Mải) gắn với những huyền thoại ấm áp tình người tạo nên khu danh thắng nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta. Với thắng cảnh thiên nhiên đẹp và nhiều nét đặc trưng độc đáo, hồ Ba Bể đã được Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ và phát triển. Khí hậu của Ba Bể cơ bản là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 23oC. Khí hậu có sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm là khá rõ rệt.

Vào mùa đông, khí hậu Ba Bể khá khắc nghiệt, nhiệt độ xuống thấp khu vực 17 Ba Bể thường xuất hiện sương muối thậm chí ở khu vực khe núi nhiều khi có băng giá. Còn mùa hè, do nhiều đồi núi với thảm thực vật phong phú và mạng lưới sông suối dày đặc nên khí hậu thường mát mẻ, trong lành. Như vậy, về mặt tự nhiên, có thể nói Ba Bể đã được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho vùng đất này những điều kiện tự nhiên mà không một địa phương nào trong tỉnh có được. Những điều kiện tự nhiên này về cơ bản là thuận lợi cho đời sống các dân tộc thiểu số ở huyện Ba Bể nói chung và dân tộc Tày nói riêng.

Và đây cũng là cơ sở cho việc hình thành nên những câu chuyện dân gian mang đậm màu sắc huyền thoại, mang đậm dấu ấn vùng miền như sự xuất hiện của những hang động, sự hình thành nên hồ Ba Bể hay sự xuất hiện của những con vật, gốc cây…xung quanh cuộc sống của người dân nơi đây. Đặc điểm xã hội Huyện Ba Bể trước đây vốn là một huyện của tỉnh Cao Bằng nhưng từ 1.1997 khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ tỉnh Bắc Thái, huyện Ba Bể được điều chuyển từ tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn quản lí. Huyện có 16 đơn vị hành chính gồm thị trấn Ba Bể và 15 xã: Mĩ Phương, Yến Dương, Hà Hiệu, Quảng Khê, Đồng Phúc, Khang Ninh, Thượng Giáo, Nam Mẫu, Cao Trĩ, Hoàng Trĩ, Bành Trạch, Cao Thượng, Địa Linh, Chu Hương, Phúc Lộc. Dân số toàn huyện hơn 51000 người, trong đó có tới 95,15% là người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Mông… và dân tộc Tày là tộc người chiếm số lượng đông nhất với 61,93% trên tổng số dân tộc thiểu số ở huyện.

Sự phân bố dân cư các dân tộc thiểu số ở các thôn bản trong huyện cũng có sự chênh lệch. Có một số bản chỉ có duy nhất một tộc người sinh sống. Thông thường, cư dân người Tày tập trung trong các bản làng tại những dải đất thấp dọc bên sông, suối hoặc ven hồ. Cư dân người Dao lại lập bản sinh sống ở lưng chừng núi, cư dân người Mông lại thường sinh sống trên các vùng núi cao.

Trước đây, cư dân dân tộc Mông và dân tộc Dao thường sống du canh, du cư nhưng hiện nay họ đã định cư cố định bản làng để lao động sản xuất. Chỉ có tộc người Tày từ xưa đến nay vẫn định cư ổn định tạo nên những bản làng đông đúc, sinh hoạt tập 18 trung tạo nên nền văn hóa cũng rất phong phú, đặc sắc. Dù là dân tộc nào thì đối với họ, bản làng, thôn xã đều là đơn vị cư trú quan trọng [48; tr. Ở đó, các gia đình có sự gắn kết bởi tình làng nghĩa xóm, thậm chí là quan hệ họ tộc.

Dù mỗi dân tộc có đặc điểm định cư khác nhau nhưng họ đều thống nhất về tiêu chí xây dựng bản làng đó là gần nguồn nước để tiện cho lao động sản xuất và sinh hoạt. Về tổ chức quản lí xã hội, mỗi thôn bản đều có người đứng đầu được gọi là trưởng thôn. Còn về gia đình thì hầu hết các gia đình của dân tộc thiểu số nơi đây đều thuộc gia đình nhỏ phụ hệ, có gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống. Trong mỗi gia đình thì người chồng, người cha làm chủ gia đình đồng nghĩa với việc: điều hành các công việc trong gia đình, tổ chức sản xuất hay điều hòa các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội đều do người chồng quyết định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Truyện Kể Dân Gian Tày Ở Ba Bể Bắc Kạn | Nghiên Cứu Chi Tiết là một tài liệu chuyên sâu khám phá văn hóa dân gian của người Tày tại khu vực Ba Bể, Bắc Kạn. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ giá trị văn hóa, lịch sử của các truyện kể dân gian mà còn góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Độc giả sẽ được tiếp cận với những phân tích chi tiết về nội dung, ý nghĩa, và vai trò của truyện kể trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Tày.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến văn hóa và chính sách dân tộc, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005. Để hiểu sâu hơn về các nghiên cứu văn hóa khu vực Tây Bắc, Luận văn thạc sĩ Sạp Thái ở Tây Bắc xưa và nay là một tài liệu đáng tham khảo. Ngoài ra, nếu bạn muốn tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu văn bản, Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu văn bản tính lý tiết yếu sẽ mang lại những góc nhìn mới mẻ.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.