phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 9 z CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ 1997 ĐẾN 2000 1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở ĐỊA BÀN THÁI NGUYÊN TRƢỚC 1997 1. Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên ảnh hƣởng tới quá trình đề ra chủ trƣơng và thực thi chính sách dân tộc Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ, là trung tâm của vùng Đông Bắc, có vị trí tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ và miền núi phía Bắc, là vùng nối giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc.
Trong quá trình lịch sử, địa danh và địa giới Thái Nguyên cũng có nhiều sự thay đổi. Vào thời Hùng Vương vùng đất Thái Nguyên thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Vào thế kỷ X- thời nhà Đinh, Tiền Lê đã chia đất nước ra làm 10 đạo, đến năm 1010 khi Lý Thái Tổ lên ngôi thay đổi 10 đạo thành 24 lộ, các vùng xa xôi gọi là châu, Thái Nguyên là một trong các châu thời ấy. Tới thời Minh Mạng thứ 12 (1831) đất nước được chia thành các tỉnh hạt, từ đó trấn Thái Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên.
Vào thời thuộc Pháp, năm 1900 chính quyền thực dân cho tách phủ Thông Hóa ra thành tỉnh Bắc Kạn gồm 5 huyện: Na Rì, Chợ Rã, Ngân Sơn, Chợ Đồn và Bạch Thông. Ngày 21/4/1965, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Năm 1985 thành lập thêm một đơn vị hành chính là thị xã Sông Công. Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, khóa IX Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra nghị quyết về việc phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh và Bắc Thái lại được tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Kể 10 z từ ngày 1/1/1997, các đơn vị hành chính của tỉnh Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động [3, tr. Ngày 22/12/1996, Bộ Chính trị ra Quyết định 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái, đồng thời thành lập Đảng bộ Thái Nguyên và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời. Đảng bộ Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1997. Như vậy, sau 30 năm hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, năm 1997, tỉnh Thái Nguyên được tái lập với diện tích tự nhiên là 3.11], gồm 9 đơn vị hành chính: các huyện Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông Công, thành phố Thái Nguyên, với 177 xã, phường, thị trấn (trong đó có 125 xã, thị trấn miền núi, vùng cao, chiếm 71,18%).
Dân số vào thời điểm cuối năm 1997 là 1.123 người [25, tr.3], thuộc 8 thành phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Dao, Hmông, Hoa. Toàn Đảng bộ có 44.449 đảng viên sinh hoạt ở 651 đảng bộ cơ sở [25, tr. Thái Nguyên có giới hạn từ 20020’ vĩ tuyết bắc đến 22003’ vĩ tuyết bắc và từ 105028’ kinh tuyến đông đến 106014’ kinh tuyến đông; có diện tích tự nhiên 3.541,1 km2; Phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Tây giáp Vĩnh Phúc, Tuyên Quang [29, tr. Thái Nguyên nằm gọn trong vành đai nhiệt đới, gần chí tuyến Bắc hơn xích đạo nên có sự khác biệt về hai mùa khá rõ rệt; về độ dài ban ngày, ban đêm; về nhiệt độ trung bình mùa; chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, nhất là về mùa đông, đồng thời vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của biển Đông và vịnh Bắc Bộ qua gió mùa mùa hạ và bão.
Thái Nguyên có hình dáng cân đối, đường quốc lộ 3 và sông Cầu gần như trục đối xứng chạy dọc thung lũng suốt từ Bắc xuống Nam tỉnh. Lãnh thổ không có chỗ nào quá hẹp hoặc phình rộng so với lộ trục; địa hình chủ yếu là đồi núi thấp 11 z chạy theo hướng Bắc- Nam, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Bao quanh phía Tây Nam và phía Bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn. Nhìn tổng thể, tự nhiên Thái Nguyên phân hóa thành 3 vùng: Vùng núi phía tây và tây bắc tỉnh: gồm Đại Từ, Định Hóa và các xã tây Phú Lương, là khu vực được hình thành sớm.
Các thung lũng sông rộng, giao thông thuận lợi, là vùng núi không quá khó khăn, có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để khai thác và phát triển kinh tế. Vùng núi phía Đông: Đồng Hỷ, Võ Nhai, địa hình phức tạp, hiểm trở, có nhiều núi đá vôi. Thung lũng sông suối hẹp, sâu, mật độ sông ngòi thưa thớt. Đây là vùng núi cao, giao thông đi lại rất khó khăn, tự nhiên có trở ngại lớn đến phát triển kinh tế- xã hội của vùng.
Vùng có địa hình thấp gồm nam Phú Lương, tây Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công. Vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu, sông Công. Đây là vùng dân cư đông đúc, giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sông, đường sắt; vùng có lịch sử tồn tại và phát triển kinh tế- xã hội lâu đời [29, tr. Trải qua hàng ngàn năm với bao biến động thăng trầm của lịch sử, Thái Nguyên đã trở thành mảnh đất hội tụ của nhiều dân tộc với sự đa dạng về văn hóa các tộc người.
Thái Nguyên ngày nay gồm 8 dân tộc chung sống xen kẽ, có dân tộc vốn là người bản địa có mặt từ xa xưa, có dân tộc mới nhập cư, song tất cả đều hòa nhập thành một cộng đồng thống nhất, cùng sống xen kẽ trên một lãnh thổ với một nền văn hóa chung về đặc điểm nhưng đa dạng về hình thái biểu hiện. Điều này do các dân tộc có nhiều nguồn gốc sinh thái, nhân văn hợp lại, cùng chung một tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa và kinh tế. Về ngôn ngữ các dân tộc ở Thái Nguyên thuộc vào 4 nhóm: Người Kinh (nhóm ngôn ngữ Việt- Mường), Người Tày, Nùng, Sán 12 z Chay (nhóm ngôn ngữ Tày- Thái), Người Hmông, Dao (nhóm ngôn ngữ Hmông- Dao), Người Hoa, Sán Dìu (nhóm ngôn ngữ Hán). Kết cấu dân tộc ở Thái Nguyên gồm: Kinh 73,49%, Tày 10,15%, Nùng 5,22%, Sán Dìu 3,57%, Sán Chay 2,79%, Hoa 2,24% Dao 2,08%, Hmông 0,46%.
Toàn tỉnh có 125 xã, thị trấn miền núi, vùng cao, trong đó có 41 xã đặc biệt khó khăn và An toàn khu. Các dân tộc thiểu số sống xen kẽ, phấn bố không đồng đều trong từng bản, làng, tập trung đông ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có những xóm, bản chỉ có một dân tộc: dân tộc Tày 267 xóm, bản; Sán Chay 64 xóm, bản; Sán Dìu 56 xóm, bản; Dao 57 xóm, bản; Nùng 42 xóm, bản; Hmông 13 xóm, bản [41, tr. Dân tộc Kinh (hay còn gọi là Việt) có tỷ lệ 73,49%.
Đây là dân tộc mang nguồn gốc bản địa, chiếm số lượng đông nhất. Dân tộc Kinh từ trước đây gồm nhiều bộ phận hợp thành: dân bản địa, dân được tuyển mộ vào làm trong các mỏ đồn điền, có bộ phận là người di cư từ các vùng đồng bằng lên. Địa bàn cư trú của người Kinh tập trung ở các huyện phía Nam, như Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên, đồng thời cũng trải rộng trên các vùng miền và sống xen kẽ cùng các dân tộc khác. Vốn cư trú ở vùng thấp, người Kinh quen với nghề trồng lúa nước, hoạt động nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với các nghề thủ công truyền thống, nghề sông nước.
Người Kinh không chỉ giàu tập quán kinh nghiệm sản xuất mà còn có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ kỹ thuật, do đó trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật trong cộng đồng người Kinh đã có nhiều tiến bộ. Vốn văn hóa truyền thống của người Kinh hết sức phong phú, đặc sắc và luôn được bảo tồn phát huy. Ngày nay, tổ chức làng xã của người Kinh ở Thái Nguyên vẫn mang những nét đặc thù tiêu biểu của cơ cấu xã hội Việt Nam. Dân tộc Tày có tỷ lệ thấp hơn, xếp thứ hai sau dân tộc Kinh, địa bàn cư trú của người Tày rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh, song chủ yếu ở những huyện 13 z miền núi, vùng cao: Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai.
Tổ tiên của người Tày vốn là cư dân bản địa ở Bắc Việt Nam và miền giáp gianh biên giới Việt- Trung. Người Tày có nền nông nghiệp khá phát triển, ngoài việc trồng lúa, đồng bào còn trồng ngô, khoai, sắn, và các loại cây lương thực, rau quả. Bên cạnh đó, người Tày còn rất khéo tay trong các nghề thủ công đan lát mây tre. Người Tày có vốn văn nghệ dân gian truyền thống hết sức phong phú với đủ các loại thơ, ca, múa, nhạc.Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể, các làn điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con.
Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên có 54.383 người, chiếm 5,22% dân số toàn tỉnh. Người Nùng có nhiều chi tộc: Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh. Phạm vi cư trú của người Nùng ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh nhưng tập trung đông nhất là ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ. Người Nùng trồng lúa và ngô, ngoài ra còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả; các nghề thủ công đã phát triển như nghề dệt, mộc, đan lát.
Người Nùng có vốn văn nghệ dân gian đặc sắc phong phú (thơ, truyện thơ, truyện cổ). Dân tộc Dao sống tập trung ở huyện Đại Từ, rồi đến Đồng Hỷ, Phú Lương, Võ Nhai. Ở Thái Nguyên có 4 nhóm Dao chính là: Dao đỏ, Dao Tiền, Dao Lô Gang, Dao Quần chẹt. Người Dao trồng lúa nương và làm ruộng nước, ngoài ra họ còn trồng màu, một số nghề thủ công cũng phát triển: dệt vải, rèn nông cụ, mộc.
Văn hóa Dao có nhiều nét độc đáo đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền, vốn văn nghệ đặc sắc. Dân tộc Sán Dìu còn có tên gọi khác là Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, sống tập trung ở các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Đại Từ, Phú Bình và thành phố Thái Nguyên. Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, một phần làm nương, soi, bãi, ngoài ra họ chăn nuôi, khai thác lâm sản, làm gạch ngói, đan lát. Thơ ca dân gian của người Sán Dìu rất phong phú, họ dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ 14 z “Soọng cô”, kể truyện, chủ yếu là chuyện thơ khá đặc sắc.
Các điệu múa thường xuất hiện trong các nghi lễ tôn giáo và trong đám ma.