Chương 1: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2001. Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tăng cường lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010. Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. 8 z Chƣơng 1 CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2001 1.1 Một số yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên 1.
Quan điểm, nhận thức chung của Đảng về cán bộ và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở * Khái niệm Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi công việc” [26, tr.269]; “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [26, tr. Điều đó nói lên là nếu có cán bộ tốt thì công việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng" [26, tr.
Như vậy, từ nội dung khái niệm cán bộ nói trên, Người không đơn thuần chỉ nói về những người có chức, có quyền trong bộ máy Nhà nước và đoàn thể nhân dân mà nêu lên những nét cơ bản nhất về nhân cách người cán bộ cách mạng trong thời đại mới. Mặc dù Hồ Chí Minh ít dùng đến khái niệm cán bộ cách mạng, nhưng trong thực tế Người luôn đòi hỏi người cán bộ phải có ý thức cách mạng, phải hết mình vì sự nghiệp của cách mạng, của nhân dân. Vị trí của cán bộ là “cầu nối” giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng, nhưng không phải là “vật mang”, là “dây dẫn”, là sự chuyển tải cơ học mà chính là con người có đủ tư chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó. Bởi lẽ để có thể đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định.
Nếu không, trong quá trình thực hiện nhiệm 9 z vụ, người cán bộ, công chức sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối, chính sách và khi đó thật là nguy hiểm. Ngoài tiêu chuẩn về trình độ hiểu biết nhất định, người cán bộ còn cần phải có tiêu chuẩn khác như phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị. Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước là một việc khó khăn, nhưng khó khăn và phức tạp hơn nhiều là nắm chắc được tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, cũng như phản ánh được đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc tham mưu, hoạch định chính sách. Công việc này đòi hỏi người cán bộ, công chức phải đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn để có thể tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận, đi vào bản chất của tình hình, đây là việc không đơn giản.
Công việc này đòi hỏi sự thống nhất trong bản thân họ, một nhà khoa học và một người chiến sỹ cách mạng nhiệt thành. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2006, cán bộ được hiểu là: Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể và lực lượng vũ trang. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự (theo ngạch bậc cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn.
Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp có khác nhau, nhưng về cơ bản, cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức. Theo Từ điển tiếng Việt, “chủ chốt” nghĩa là quan trọng nhất, có tác 10 z dụng làm nòng cốt. Cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị các cấp (Trung ương, Tỉnh - Thành phố trực thuộc Trung ương, Quận - Huyện - Thành phố trực thuộc tỉnh, Xã - Phường - Thị trấn), nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc trưng của bộ máy quyền lực chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta. Có thể hiểu hệ thống chính trị cơ sở bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp có quan hệ về mục đích, chức năng nhằm thực hiện quyền lực chính trị ở cơ sở.
Theo quan niệm hiện nay, hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm “cán bộ chủ chốt ở cơ sở” được hiểu là các chức danh sau: - Các chức danh trong hệ thống chính trị ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) như: Bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ nhiệm Hợp tác xã [49, tr. - Là những cán bộ chủ chốt nhất trong số cán bộ chủ chốt của các tổ chức Đảng, Chính quyền và Hội đồng nhân dân. Phổ biến là ba chức danh: Bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và có thể là Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế.
- Là Bí thư Đảng ủy và Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy; Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Hội nông dân xã [25, tr. Một số ý kiến khác cho rằng, ngoài các chức danh trên, còn một số chức danh như: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ, Bí thư Đoàn thanh niên… Như vậy, nội hàm khái niệm cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chứa đựng các yếu tố sau: Thứ nhất, là người có chức năng lãnh đạo, được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng nhất để lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, 11 z chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về nhiệm vụ được phân công. Thứ hai, là người có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương, chính sách về một sự lãnh đạo toàn diện từ cấp trên. Thứ ba, là người có vai trò quan trọng nhất trong việc hiện thực hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào điều kiện cơ sở.
Thứ tư, có thẩm quyền giải quyết các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… trong phạm vi toàn xã bằng những hình thức khác nhau. Từ các yếu tố trên, có thể hiểu: cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người đứng đầu, giữ vị trí trọng yếu nhất trong hệ thống chính trị ở cơ sở, có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp hành chủ trương chính sách, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua việc trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn [33, tr. Do đó, luận văn đề cập đến cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay bao gồm: Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Bí thư Đảng ủy: là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ hoạt động của Đảng bộ; nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ và cấp ủy, của Ban Thường vụ và chỉ đạo tổ chức thực hiện những việc do hội Nghị quyết định; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và chịu trách nhiệm về những công việc do cấp ủy phân công phụ trách trực tiếp như: chủ trì hoạt động của Hội đồng nhân dân, lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng, công tác an ninh - quốc phòng và công tác cán bộ; kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết của cấp ủy, Ban Thường vụ, Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên… Chủ tịch Hội đồng nhân dân: là người có trách nhiệm nghiên cứu, nắm 12 z vững các chỉ thị, Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng vào thực tiễn của địa phương; chủ động đề xuất với Ban Thường vụ và Đảng ủy những chủ trương, biện pháp thực hiện các nhiệm vụ chính trị, củng cố tổ chức và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy và Đảng bộ; trực tiếp chỉ đạo công tác cán bộ theo phân cấp quản lý.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: là người chịu trách nhiệm chính toàn bộ công tác chính quyền Nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các mặt công tác do cấp trên chỉ đạo, chương trình công tác của đảng ủy về mặt chính quyền đúng pháp luật, xây dựng kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân xã từng thời gian báo cáo cấp ủy và Hội đồng nhân dân, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên Ủy ban nhân dân xã; chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, nhân dân và cấp trên về quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách của Ủy ban nhân dân xã. Trên thực tế, ở nhiều nơi, Bí thư Đảng ủy xã đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Với mô hình này, thẩm quyền và trách nhiệm của Bí thư càng lớn. Ngoài công tác Đảng, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân còn phải chịu trách nhiệm lãnh đạo Hội đồng nhân dân quyết sách những vẫn đề lớn của địa phương; duy trì công tác tiếp xúc cử tri cũng như hoạt động của Hội đồng, các tổ Hội đồng hiệu quả, đúng luật định.
Mô hình kiêm nhiệm cũng được áp dụng ở nhiều nơi đối với các chức danh Phó Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Để làm việc một cách hiệu quả, đội ngũ này cần có những người giúp việc năng động, có trình độ, đó là Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.