Chương 1 CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1. Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng bộ 1. Điều kiện lịch sử Vĩnh Phúc gồm hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên được thành lập khi thực dân Pháp đến xâm lược Việt Nam. Tỉnh Vĩnh Yên thành lập năm 1890; tỉnh Phúc Yên thành lập năm 1901.
Ngày 12-2-1950, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra nghị định số 03/TTg hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 26-1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504/NQ-QH hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Đến tháng 11 - 1996, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết về việc phân chia địa giới hành chính của một số tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Phú chia tách thành hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Như vậy, sau gần 29 năm hợp nhất, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1997.
Sau ngày tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc có sáu đơn vị hành chính trực thuộc là thị xã Vĩnh Yên, và năm huyện: Mê Linh, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Yên Lạc, với tổng số 148 xã, phường, thị trấn. Tháng 9 - 1998, huyện Tam Đảo tách thành hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên. Tháng 8 - 1999, Chính phủ ra Nghị định điều chỉnh địa giới và mở rộng thị xã Vĩnh Yên, nên toàn tỉnh có 150 xã, phường, thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 1.370,73km2; đất nông nghiệp chiếm 46,4% diện tích (64.387 ha); dân số gần 1,2 triệu người, trong đó: dân số nông nghiệp chiếm 91,35%, dân tộc thiểu số chiếm 2,7%, mật độ dân số khoảng 800 người/km2 [1, tr.
Toàn tỉnh có huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô và 39 xã được chính phủ công nhận là miền núi. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về mở rộng địa giới, hành chính Thủ đô Hà Nội, từ ngày 1-8-2008, huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc chuyển toàn bộ về Thành phố Hà Nội. Hiện nay Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1.231km2, dân số 10,2 triệu người. Tỉnh có 9 đơn vị hành chính, 1 thành phố, 1 thị xã và 07 huyện, 137 xã phường, thị trấn, trong đó có 39 xã miền núi.
9 z Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du ở Bắc Bộ nằm bên tả ngạn sông Hồng; là vùng chuyển tiếp, cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang. Ở vị trí cửa ngõ thủ đô, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước nên nhân dân Vĩnh Phúc nói chung và phụ nữ Vĩnh Phúc nói riêng rất nhanh nhạy nắm bắt thời cuộc, sớm tiếp thu ảnh hưởng của phong trào yêu nước, phong trào cách mạng của thủ đô và các tỉnh lân cận. Trong tỉnh hình thành ba vùng địa hình xen kẽ là: rừng núi, đồng bằng và đồi gò.
Vùng rừng núi nằm ở phía bắc tỉnh, tiếp giáp với núi rừng của hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, trong đó có hai dãy núi quan trọng: dãy Tam Đảo (ngọn cao nhất 1.591m) và dãy Sáng Sơn cao 633m. Vùng đồng bằng nằm phía Nam tỉnh bao gồm các huyện Mê Linh, Vĩnh Tường, Yên Lạc. Giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng là vùng đồi gò xen kẽ nhau từ Đông sang Tây. Đặc điểm sinh thái trên tạo điều kiện phát triển nông nghiệp đa dạng về cây lương thực, cây ăn quả, chăn nuôi và phát triển kinh tế đồi rừng.
Dọc theo dãy Tam Đảo với nhiệt độ trung bình 180C, có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, rất thuận lợi cho phát triển du lịch. Vĩnh Phúc đã trở thành một bộ phận cấu thành của vùng vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc; sự hình thành và phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đến Vĩnh Phúc đã đưa tỉnh xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố của quốc gia và quốc tế: Hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, Quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV thành phố Hà Nội. Do vị trí thuận lợi và chính sách đầu tư hợp lý của tỉnh, Vĩnh Phúc là một địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư. Tháng 7 - 2003, Vĩnh Phúc được Chính phủ phê duyệt là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường sắt, đường bộ và đường thuỷ, gần sân bay quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), vì vậy rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập, đặc biệt vùng đất cao, có những thuận lợi trong thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệp. 10 z Vào thời điểm tái lập, Vĩnh Phúc vẫn là tỉnh nghèo, với xuất phát điểm kinh tế rất thấp, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% so với bình quân chung của cả nước, kinh tế hàng hóa chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (chiếm 52,5% giá trị GDP), dân số ở nông thôn chiếm hơn 90% [1, tr. Khoảng 10,7% hộ nghèo do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, không có việc làm, đông con. Thu nhập thấp, đời sống của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (hơn 50% là phụ nữ) còn gặp rất nhiều khó khăn [3, tr.
Dân số của tỉnh có gần 1,2 triệu người, tỷ lệ nữ chiếm 51,8%, đây là nguồn cung cấp lực lượng lao động dồi dào, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, số người trong độ tuổi lao động là nữ chiếm 54,7%. Toàn tỉnh Vĩnh Phúc, ngoài dân tộc Kinh, có hơn 30 dân tộc thiểu số. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm hơn 97%, dân tộc thiểu số chỉ chiếm 2,7% (bao gồm các dân tộc chính là: Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu). Sán Dìu là dân tộc đông dân nhất trong các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc, chiếm hơn 80% tổng dân số các dân tộc thiểu số trong tỉnh.
Các dân tộc thiểu số đều sinh sống tập trung ở ven phía nam chân núi Tam Đảo, thuộc địa bàn các huyện Tam Đảo, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên. Tuy có tộc người là dân bản địa có mặt từ xa xưa, có tộc người mới nhập cư gần đây nhưng do những yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội, lịch sử, các tộc người sống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đều hòa nhập thành một cộng đồng đoàn kết, thống nhất cùng chung sống. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc càng được phát huy. Hàng nghìn năm nay, phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc là người phải đảm nhận phần lớn công việc gia đình, từ việc lao động nặng nhọc đến việc nội trợ, nuôi dạy con cái.
Khi mới tái lập tỉnh, đời sống kinh tế của phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn, thêm vào đó trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, miền trong tỉnh. Do có lúc, có nơi nhận thức chưa đầy đủ về bình đẳng giới, phụ nữ không được đánh giá đúng khả năng, vai trò của mình trong gia đình và xã hội. Sự bất bình đẳng đối với phụ nữ đã kìm hãm sự sáng tạo, tính độc lập của phụ nữ, tạo ra thói quen an phận, nhẫn nhục trong gia đình và làng xã. 11 z Một tính cách đặc trưng nổi bật của phụ nữ Vĩnh Phúc là lòng yêu nước, yêu quê hương, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài của lịch sử dân tộc và quê hương. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Vĩnh Phúc được xem như một vùng đất cổ sớm được người Việt đến định cư sinh sống. Thời kỳ Hùng Vương dựng nước, Vĩnh Phúc nằm trong địa bàn Phong Châu - kinh đô đầu tiên của Nhà nước Văn Lang. Mở đầu trang sử oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc những năm đầu Công nguyên là khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra trên đất Vĩnh Phúc vào mùa xuân năm Canh tý (năm 40 sau công nguyên).
Trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tổng số 103 tướng chỉ huy, có 51 vị tướng nữ, riêng Vĩnh Phúc có 28 nữ tướng phụ trách các mũi tiến quân và trấn giữ cửa ải [3, tr. Trong số những người phụ nữ tiêu biểu tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng có thể kể đến các nữ tướng tiêu biểu như: Bà Lê Thị Ngọc Chinh, bà Do La Thần Nữ, Hồng Nương, Thanh Nương…. Ngày nay rất nhiều truyền thuyết, thần tích, đền miếu thờ Hai Bà Trưng và các nữ tướng của hai bà vẫn còn truyền tụng trong dân gian và được thờ phụng với nghi lễ cúng tế tôn kính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỉ XIII, tên tuổi của Bà Lỗ Thị Bồ (tức Bảy) người xã Bồ Lý, huyện Lập Thạch cùng nghĩa binh nữ dũng của bà được lưu truyền là nghĩa quân bất khuất cùng quân dân cả nước đánh giặc Mông - Nguyên thắng nhiều trận lớn.
Sau chiến thắng, bà được nhà Vua ban tước hiệu "Đô dũng thống chế đại vương, đại tướng quân" và ban thưởng cho vùng đất Đinh Sơn (núi Đinh) [3, tr. Như vậy, ngay từ những trang sử vàng đầu tiên của cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, hình ảnh người phụ nữ Vĩnh Phúc đã được in đậm như một dấu son trong tiến trình phát triển của đất nước. Truyền thống quý báu của phụ nữ Vĩnh Phúc đã được kế thừa và phát huy qua nhiều thế hệ với những tấm gương sáng về đức tính cần cù, lòng dũng cảm thông minh, chính trực trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Cái tâm, cái đức của người phụ nữ Vĩnh Phúc ngàn đời nay được tập trung ở hình tượng Quốc mẫu đã giúp chồng là vua Hùng Chiêu Vương và con là Hùng Vỹ Vương kế tục truyền thống họ Hùng lâu dài được nhân dân lập đền 12 z thờ trên núi Tam Đảo được gọi là đền Tây Thiên.