Chương 1 DANG VỚI HOẠT ĐỘNG DOI NGOẠI CUA HỘI LIÊN HIỆP PHU NU VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 DEN NĂM 2000 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và chủ trươngđối ngoại của Đảng, của Hội 1. Những yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Cuối thập ky 80 thé ky XX, tình hình thế giới có nhiễu biến chuyển quan trọng. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hi én đại phát triển tăng tốc với các đợt sóng công nghệ cao , nồi bật là công nghệ thông tin , tác động sâu sắc tới những biến đôi kinh tế , chính trị, văn hóa và tổ chức đời sống xã hội, là một trong những xu thé lớn của thế giới đương đại.
Đồng thời, trong thời gian nay, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng tram trọng. Đến đầu thập kỷ 90 của thé kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sup đồ, dẫn đến những biến đôi co bản nên chính trị thé giới và quan hệ quốc tế. Trật tự thé giới từ sau Chiến tranh thê giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trật tự hai cực) tan rã, trật tự thé giới mới được hình thành. Các nước vừa hợp tác , vừa đấu tranh với nhau để xác lập vai trò, vị thế của mình đối với khu vực và thé giới.
Da cực hóa chính trị trở thành xu hướng phổ biến của thé giới đương đại _. Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, các quốc gia đặc biệt là các nước vừa và nhỏ , các tô chức, lực lượng chính trị quốc tế , đều điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với lợi ích mỗi quốc gia và thích ứng với sự phát triển của thế giới. Biểu hiện nổi bật của xu thế điều chỉnh chiến | woc là các dân tộc nâng cao ý thức độc lap , tự chủ va tự lực tự cường, không chấp nhận lệ thuộc vào quốc gia khác, chủ động tìm kiếm con đường phát trién của mình. Sau Chiến tranh lạnh, các nước đã đổi mới tư duy về quan nié m sức mạnh, vi thế quốc gia.
Từ quan niệm lấy sức mạnh quân sự làm thước đo đã dựa trên các tiêu chí sức mạnh tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế và khoa học công nghệ được đặt ở vị trí trung tâm. Cuộc chạy dua phát tri én kinh tế và khoa học công nghệ khiến các nước_, nhất là những nước đang phát triển phải đổi mới tư duy đối ngoại _, thực hiện chính sách đa phương hóa, da dang hóa quan hệ quốc tế ; mở rộng và tăng cường liên kết , hợp 13 tác với các nước phát triển để tranh thủvốn , kỹ thuật công nghệ , mở rộng thi trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh. Nói đến tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh còn là nói đến quá trình phát triển của xu thế quốc tế hóa , toàn cầu hóa và sự ra đời của các tô chức liên minh quốc tế. Toàn cau hóa xét về bản chất là quá trình gia tăng mạnh mẽ các múi liên hệ, sự phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại giữa các quốc gia, khu vực trên lĩnh vực kinh tế.
Nếu như trong thời kỳ chủ nghĩa tư ban , quá trình toàn cầu hóa chịu sự chi phối của các tập đoàn tư bản và các nước lớn mà tiêu biéu là Hoa Kỳ thì trong thời đại ngày nay, cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển và các lực lượng tiến bộ đã góp phan hạn chế sự chi phối của các nước phát triển trong các tổ chức quốc tế. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh” [78, 449]. Toàn cầu hóa có những tác động tích cực đối với mỗi nước tham gia vào quá trình này. Trên cơ sở thị trường được mở rộng, hàng rào thuế quan và phi thuế quan thuyên giảm, vi thé giao lưu hàng hóa thông thoáng hơn, trao đổi hang hóa tăng mạnh, thúc đây sản xuất của mỗi nước; nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý cùng các hình thức đầu tư bản, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham gia hợp tác.
Về mặt chính trị, toàn cầu hóa làm tăng tính tùy thuộc lẫn nhau, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa bình, hợp tác song phương và đa phương. Nhìn chung, toàn cầu hóa tạo điều kiện phát huy hiệu quả nguồn lực trong nước và khai thác, tận dụng các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển của các quốc gia. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng chứa đựng nhiều yếu tố bat bình dang, gây khó khăn thử thách lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tai nguyên, năng lượng thị trường, nguồn vốn, công nghệ.
giữa các nước ngày càng gay gắt. Toàn cầu hóa kinh tế thường tỏ ra là một cuộc đua, trong đó có kẻ thăng, người thua thực sự. Toản câu hóa mang 14 đến những cơ hội lớn cho sự phát triển thực sự trên toàn thế giới, tuy nhiên đó không phải là sự phát triển đồng đều. Một số nước đang hội nhập vào nên kinh tế toàn cầu nhanh hơn các nước khác.
Những nước hội nhập nhanh hơn đạt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và giảm bớt tình trạng đói nghèo. Các nước tư bản phát triển lợi dụng ưu thế về tiềm lực kinh tế và công nghệ thu lợi lớn trong quá trình toàn cầu hóa và gây sức ép với các nước kém phát triển, không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị. Hơn nữa, tự do thương mại toàn cầu đang được thúc đây nhưng đi liền với nó là các vụ kiện bán phá giá, áp dụng các biện pháp “trừng phạt” bằng quan thuế và phi quan thuế lẫn nhau vẫn liên tục dién ra trong quan hệ kinh tế thé giới. Các biến động nhất là các biến động tiêu cực có thê lây lan rất nhanh ra phạm vị toàn cầu, gây thiệt hại cho trước tiên là các nước đang phát triển.
Toàn cầu hóa còn kéo theo các tệ nạn như hoạt động diễn biến hòa bình gia tăng, tội phạm xuyên quốc gia, Sự truyền bá một cách nhanh chóng văn hóa không lành mạnh. Trước những tác động hai mặt của toàn cầu hóa, các nước đang phát triển — trong đó có Việt Nam, hoặc là coi toàn cầu hóa như một liều thuốc vạn năng cho sự phát triển của đất nước, hoặc quay lưng lại hoặc chủ động hội nhập trên cơ sở phát huy những thuận lợi, hạn chế những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa. Có thể thay, từ năm 1996 đến năm 2000, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước tiếp tục phát triển trong tình hình thế giới dién biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng những yếu tô khó lường với năm đặc điểm nỗi bật được nhận định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Dang: Một là, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đồ khiến chủ nghĩa xã hội tam thời lâm vào thoái trào , nhưng điều đó không làm thay đối tinh chất của thời đại; loài người van đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thé giới vẫn ton tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.
Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức. Hai là, nguy cơ chiến tranh thé giới hủy diệt bị đây lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo , chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp , lật dé, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Tình hình thé giới dién biến phức tạp ; các hoạt động khủng bố và chống khủng bồ trở thành van 15 đề thời sự nóng bỏng toàn cầu; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn giáo tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi. Thế lực hiếu chiến cực đoan tăng cường chính sách áp đặt, can thiệp và xâm lược vũ trang.
Ba là cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đây quá trình chuyển dich cơ cau kinh tế thé giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội. Bon là cộng đồng thế giới đứng trước nhiều van đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng né về dân số, phòng ngừa va đây lùi những bệnh tật hiểm nghèo.), không một quốc gia riêng lẻ nào có thé tự giải quyết, mà cần phải có sự hợp tác đa phương. Năm là khu vực Châu Á - Thái bình Dương đang phát triển năng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao. Đồng thời, khu vực này cũng tiềm ân một số nhân tố có thé gây mất ôn định như vấn dé Triều Tiên _, vấn đề Biên Đông.
Trong bối cảnh sự tranh giành ảnh hưởng về kinh tế , chính trị giữa các nước lớn ở khu vực có chiều hướng tăng lên, các nước ASEAN đang nỗ lực khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở khu vực Châu Á và ảnh hưởng rộng khắp của nó trên toàn cầu vào năm 1997. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nỗ ở khu vực Đông Nam Á đã khiến cho số lượng các hoạt động giao lưu quốc tế nói chung bị cắt giảm. Có nhiều hoạt động khu vực và quốc tế mặc dù đã có lịch tổ chức ở một số nước song khó khăn về tài chính và bat ôn về chính trị nên đã hoãn hoặc giảm; các nước ASEAN từng bước phục hôi đà phát triển kinh tế , vừa củng cố sự lién kết , hop tác trong nội bộ khối , vừa mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài.