Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử đề tài "Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phạm Quốc Thành thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2014, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 56 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phùng Hữu Phú và PGS. Trịnh Mưu.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), IX (2001), X (2006) và XI (2011), cùng Nghị quyết số 09-NQ của Bộ Chính trị khóa VII (18/2/1995) và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư (27/3/2003), khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Mặc dù vai trò của Nguyễn Ái Quốc đã được nhiều công trình trong và ngoài nước tiếp cận, tác giả chỉ ra khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sâu sắc: làm rõ vai trò của lý luận giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc xây dựng trong những năm 20 của thế kỷ XX như một nhân tố trực tiếp và quyết định nhất hình thành nên Đảng; phân tích những nhân tố dẫn đến sự lựa chọn con đường cứu nước vô sản; làm rõ sự chủ động và cống hiến sáng tạo của Người trong toàn bộ tiến trình sáng lập Đảng; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để phản bác các quan điểm sai trái về sự kiện lịch sử này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguyễn Ái Quốc với việc xác định con đường giải phóng dân tộc, chuẩn bị tiền đề tư tưởng chính trị, tổ chức tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc, trọng tâm là từ bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, qua giai đoạn hoạt động tích cực trong những năm 1920, đến Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng đầu năm 1930.

Mục đích nghiên cứu của công trình là làm sáng rõ quá trình chuẩn bị, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc và rút ra những nhận xét khoa học về quá trình này. Để thực hiện mục đích đó, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
  2. Làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định con đường giải phóng dân tộc cho Việt Nam.
  3. Làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  4. Làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
  5. Rút ra nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1 của công trình, tác giả đã tiến hành khảo cứu, phân loại và đánh giá một khối lượng lớn các tài liệu khoa học đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.

Các hướng nghiên cứu của các tác giả trong nước

Tác giả chia các công trình trong nước thành các nhóm nghiên cứu tiêu biểu:

  • Tác phẩm của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Các công trình của Trường Chinh (Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam, 1991; Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, 1980), Lê Duẩn (Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, 1986; Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng..., 1970), Phạm Văn Đồng (Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, 1998; Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, 2009), Nguyễn Văn Linh (Bác Hồ sống mãi với non sông, 1990), Võ Nguyên Giáp (Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, 2000). Các công trình này khẳng định vai trò lãnh tụ, người sáng lập và rèn luyện Đảng của Hồ Chí Minh.
  • Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học lịch sử:
    • GS. Trần Văn Giàu trong Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam (tập 2, 2007) và Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh (1997) phân tích phong trào công nhân giai đoạn 1929–1930, nhấn mạnh vai trò quyết định của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị hợp nhất tựa như vai trò của Lênin trong Đảng Bônsêvích.
    • PGS. Lê Mậu Hãn (Chủ biên) trong Đảng Cộng sản Việt Nam các Đại hội và Hội nghị Trung ương (1998) và các bài viết chuyên khảo (2000, 2006, 2010, 2013) phân tích quá trình chuẩn bị tư tưởng chính trị, đào tạo cán bộ và tính đúng đắn, sáng tạo, thấm đượm tính nhân văn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
    • GS. Song Thành (Chủ biên) trong Hồ Chí Minh tiểu sử (2006, sản phẩm đề tài KX.11 thuộc Chương trình KX.02 giai đoạn 1991–1995) dành Chương 5 (60 trang) khảo cứu toàn diện hoạt động từ tháng 11/1924 đến tháng 2/1930.
    • Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương trong Tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh (2013, Chuyên đề X) luận giải quy luật hình thành Đảng từ sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
    • GS. Mạch Quang Thắng trong Hồ Chí Minh con người của sự sống (2010) và bài nghiên cứu (2000) đưa ra quan điểm về yếu tố thứ tư cấu thành quy luật ra đời của Đảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước + Tư tưởng Hồ Chí Minh = Sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    • GS. Trịnh Nhu trong Mấy vấn đề lịch sử Việt Nam tái hiện và suy ngẫm (2007) và các bài báo (1994, 1997, 2002, 2005) khẳng định các luận điểm của Nguyễn Ái Quốc là nền tảng tư tưởng chi phối nội dung văn kiện Hội nghị thành lập Đảng.
    • PGS. Phạm Xanh trong Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam (1921-1930) (2009) khảo cứu sâu tiến trình từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, quá trình "Bônsêvích hóa" Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng.
    • Các nghiên cứu của Đặng Xuân Kỳ, Đinh Xuân Lâm, Vũ Dương Ninh, Đinh Xuân Lý, Lê Văn Yên, Nguyễn Đình Đài, Đinh Trần Dương, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Thuận, Phạm Ngọc Dũng...

Các hướng nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Luận án điểm lại các công trình của học giả quốc tế:

  • E. Cô-bê-lép (Nga) trong Đồng chí Hồ Chí Minh (1985, 2010) phân tích hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Xiêm, Quảng Châu, Liên Xô và vai trò triệu tập, chủ trì Hội nghị hợp nhất tại Hồng Kông.
  • GS. Furuta Motoo (Nhật Bản) trong Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới (1997, 2002) phân tích phương pháp ứng xử mềm dẻo của Nguyễn Ái Quốc nhằm thống nhất ba nhóm cộng sản.
  • William Duiker (Ho Chi Minh a life, 2000), Sophie Quinn-Judge (Ho Chi Minh, the missing years 1919-1941, 2002), Huỳnh Kim Khánh (Vietnamese Communism 1925-1945, 1982), Thu Trang (Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917-1923, 1989), cùng các tác phẩm của L. Patti, Charles Fourniau, Jean Lacouture.
Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu Tác phẩm / Hướng tiếp cận chính
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh Tổng kết lịch sử, khẳng định vai trò lãnh tụ, người sáng lập và rèn luyện Đảng
Nghiên cứu lịch sử, lý luận trong nước Trần Văn Giàu, Lê Mậu Hãn, Song Thành, Trịnh Nhu, Phạm Xanh, Mạch Quang Thắng Khảo cứu tiến trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, bối cảnh 1929–1930, Cương lĩnh đầu tiên và quy luật thành lập Đảng
Tài liệu đào tạo, đề tài Nhà nước Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Viện Lịch sử Đảng, Đề tài KX.11, KX.03, KX02-12, KHXH 01.06 Xây dựng hệ thống giáo trình, chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng
Nghiên cứu quốc tế E. Cô-bê-lép, Furuta Motoo, William Duiker, S. Quinn-Judge, Huỳnh Kim Khánh Tiểu sử chính trị, hoạt động quốc tế và phương pháp hợp nhất các tổ chức cộng sản

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Kế thừa các thành quả đã công bố, luận án tập trung giải quyết các vấn đề chưa được khảo cứu toàn diện:

  1. Đi sâu phân tích hệ thống lý luận giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc được hình thành trong những năm 1920.
  2. Quá trình truyền bá lý luận giải phóng dân tộc vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước tại Việt Nam.
  3. Làm rõ các nhân tố khách quan, chủ quan thúc đẩy việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản.
  4. Phân tích cụ thể tính chủ động, quyết đoán và sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong hoạt động thực tiễn thành lập Đảng (lựa chọn lộ trình tổ chức tiền thân, đào tạo cán bộ, giải quyết mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, học thuyết về chính đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, và quy luật thành lập Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Khung phân tích của tác giả quán triệt nguyên tắc biện chứng giữa điều kiện khách quan của thời đại, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam và vai trò nhân tố chủ quan của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử chuyên ngành:

  • Phương pháp luận chung: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm thực tiễn và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn.
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp lôgíc nhằm tái hiện diễn trình lịch sử chân thực, đồng thời rút ra bản chất, quy luật của các sự kiện.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích - tổng hợp văn bản tư liệu, và phương pháp so sánh lịch sử để đối chiếu giữa các nguồn sử liệu, giữa quan điểm của Nguyễn Ái Quốc với các học thuyết đương thời.

Nguồn tư liệu sử dụng

Nguồn tư liệu của luận án được khai thác từ 4 khối tài liệu chính:

  1. Khối tư liệu gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng: Bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, NXB Chính trị quốc gia, 2011); bộ Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập, NXB Chính trị quốc gia, 1993–1996); bộ Văn kiện Đảng toàn tập (NXB Chính trị quốc gia, từ 1998).
  2. Khối văn kiện chỉ đạo và công trình cấp Nhà nước: Các bài nói, bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các công trình nghiên cứu thuộc các Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước (KX.02, KX.03, KX02-12, KHXH 01.06).
  3. Khối ấn phẩm nghiên cứu chuyên khảo: Sách chuyên khảo, hồi ký lịch sử, kỷ yếu hội thảo khoa học và các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Giáo dục lý luận, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp chí Lịch sử quân sự, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam.
  4. Khối tư liệu quốc tế: Tác phẩm của các học giả Nga, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Anh nghiên cứu về tiểu sử và sự nghiệp Hồ Chí Minh, văn kiện của Quốc tế Cộng sản.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục luận án gồm phần Mở đầu, 5 chương nội dung (11 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả và Tài liệu tham khảo.

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này gồm 3 tiết (1.1, 1.2, 1.3), tập trung phân tích có hệ thống các công trình trong nước và quốc tế nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc và quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả đánh giá những thành quả nghiên cứu đã đạt được của các học giả đi trước, đồng thời chỉ ra những khía cạnh còn chưa được đào sâu như: vai trò quyết định của lý luận giải phóng dân tộc, quá trình truyền bá cụ thể vào trong nước, tính sáng tạo và sự chủ động của Người khi giải quyết khủng hoảng tổ chức năm 1929–1930, từ đó xác lập các nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án cần giải quyết.

Chương 2. Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam

Chương 2 gồm 2 tiết lớn (2.1 và 2.2), trình bày bối cảnh lịch sử và bước chuyển nhận thức mang tính quyết định của Nguyễn Ái Quốc:

  • Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX:
    • Tình hình thế giới: Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản phương Tây sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường xâm chiếm thuộc địa (theo thống kê của Lênin năm 1914, 6 nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm 65 triệu km² thuộc địa với 523,4 triệu dân; riêng Pháp chiếm 10,6 triệu km² với 55,5 triệu dân). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (1919) cùng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin (1920) đã mở ra thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc.
    • Tình hình Việt Nam: Thực dân Pháp nổ súng xâm lược ngày 1/9/1858 tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Chế độ cai trị của Pháp thi hành chính sách bóc lột kinh tế (cướp đoạt ruộng đất, đặt ra hàng trăm thứ thuế), chuyên chế chính trị (dùng sắc lệnh cai trị, đàn áp đẫm máu) và nô dịch văn hóa (chính sách ngu dân, xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học; số liệu trích dẫn nêu rõ: có 1.500 ty rượu và thuốc phiện cho 1.000 làng trong khi chỉ có 10 trường học cho cùng số làng đó). Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến (Cần Vương) và dân chủ tư sản đẩy cách mạng Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
  • Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản: Nguyễn Ái Quốc rời Tổ quốc năm 1911 đi sang phương Tây khảo sát thực tế các nước tư bản (Pháp, Mỹ, Anh). Sau khi nghiên cứu Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789) và Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), tiếp cận Luận cương của Lênin vào tháng 7/1920, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua (tháng 12/1920), chính thức khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Chương 3. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chương 3 gồm 2 tiết (3.1 và 3.2), làm rõ hai nội dung chuẩn bị căn bản:

  • Chuẩn bị về tư tưởng chính trị:
    • Xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc: Nguyễn Ái Quốc hình thành hệ thống lý luận giải phóng dân tộc thuộc địa mang đặc thù Việt Nam, khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có mối quan hệ khăng khít với cách mạng vô sản ở chính quốc nhưng mang tính chủ động, có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Lý luận chỉ rõ nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc; lực lượng cách mạng là toàn dân tộc với công - nông là "gốc", là "chủ"; cách mạng muốn thắng lợi trước hết phải có đảng cách mạng mang học thuyết Mác - Lênin làm cốt.
    • Truyền bá lý luận vào Việt Nam: Xuất bản báo chí (Le Paria, Thanh niên), các tài liệu tuyên truyền, đặc biệt là tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) làm tài liệu huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng.
  • Chuẩn bị về tổ chức:
    • Nhận thức vai trò của tổ chức: Xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, muốn đánh đuổi thực dân phải tổ chức lực lượng chặt chẽ.
    • Thành lập tổ chức tiền thân và đào tạo cán bộ: Tháng 6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tổ chức quá độ phù hợp với trình độ giác ngộ lúc bấy giờ), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt rồi đưa về nước hoạt động, thực hiện phong trào "vô sản hóa" (từ năm 1928), đưa lý luận thâm nhập sâu rộng vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước.

Chương 4. Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam

Chương 4 gồm 2 tiết (4.1 và 4.2), phân tích sự kiện lịch sử đầu năm 1930:

  • Triệu tập, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng: Trước sự phát triển mạnh của phong trào cách mạng dẫn đến sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản năm 1929 (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) nhưng hoạt động biệt phái, tranh giành ảnh hưởng, Nguyễn Ái Quốc với tư cách phái viên Quốc tế Cộng sản và uy tín cá nhân đã chủ động từ Xiêm sang Hồng Kông triệu tập Hội nghị hợp nhất từ ngày 6/1/1930.
  • Xây dựng Cương lĩnh chính trị đầu tiên: Hội nghị đã thông qua các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo gồm: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xác định chiến lược: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản; đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
  • Bước ngoặt lịch sử: Sự ra đời của Đảng chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam.

Chương 5. Nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc

Chương 5 gồm 2 tiết (5.1 và 5.2), đúc kết các luận điểm đánh giá khoa học:

  • Sáng tạo về mặt tư tưởng:
    • Phê phán chủ nghĩa thực dân và xác lập con đường cách mạng vô sản phù hợp với điều kiện thuộc địa phương Đông.
    • Vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về quy luật thành lập Đảng: khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
    • Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
  • Sáng tạo trong hoạt động thực tiễn:
    • Thể hiện tính chủ động, quyết đoán: kịp thời triệu tập Hội nghị hợp nhất khi chưa có chỉ thị cụ thể của Quốc tế Cộng sản, linh hoạt giải quyết những bất đồng giữa các đại biểu.
    • Lựa chọn lộ trình tổ chức phù hợp: đi từ việc lập tổ chức yêu nước tiến bộ, lập tổ chức cách mạng tiền thân (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên) mang tính chất quá độ, đào tạo cán bộ, truyền bá lý luận, rồi mới tiến tới thành lập chính đảng cộng sản chính thức khi các điều kiện đã chín muồi.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã nêu rõ những đóng góp mới về mặt khoa học, phân định trên hai phương diện tư liệu và nội dung lý luận:

Về mặt tư liệu

  • Luận án đã sưu tầm, tập hợp và hệ thống hóa một khối lượng lớn sử liệu liên quan đến quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
  • Cập nhật, khai thác và xử lý các nguồn tư liệu mới được công bố trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản năm 2011) và bộ Văn kiện Đảng toàn tập (từ năm 1998), đảm bảo tính xác thực, khoa học và nhất quán về mặt lịch sử.

Về mặt nội dung khoa học

  • Làm rõ tính quyết định của lý luận: Khẳng định lý luận giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc xây dựng và truyền bá trong những năm 20 của thế kỷ XX là yếu tố trực tiếp và quyết định nhất dẫn đến sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930.
  • Làm sáng tỏ tính chủ động và sáng tạo: Phân tích toàn diện sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc từ việc khảo sát con đường cứu nước, chuẩn bị các tiền đề tư tưởng, chính trị, tổ chức, đến việc đứng ra triệu tập, chủ trì Hội nghị hợp nhất và soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
  • Làm rõ cống hiến phát triển lý luận Mác - Lênin: Chứng minh luận điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc khi bổ sung phong trào yêu nước vào quy luật hình thành chính đảng vô sản ở một nước thuộc địa; xác lập mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
  • Ý nghĩa đấu tranh tư tưởng: Cung cấp các luận cứ lịch sử và lý luận vững chắc, góp phần bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất

Từ kết quả nghiên cứu lịch sử, luận án liên hệ và đề xuất phương hướng vận dụng vào công tác xây dựng Đảng hiện nay:

  • Kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
  • Vận dụng bài học lịch sử về kết hợp lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
  • Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và nội dung được tác giả xác định trong văn bản:

  • Hạn chế về phạm vi: Luận án tập trung khảo sát quá trình chuẩn bị và thành lập Đảng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 (thời điểm Hội nghị thành lập Đảng kết thúc), do đó chưa đi sâu phân tích toàn bộ diễn trình lãnh đạo thực tiễn và hoàn thiện đường lối cách mạng của Đảng trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo sau năm 1930.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời kỳ Đảng lãnh đạo chính quyền (sau năm 1945) và trong công cuộc đổi mới hiện nay.
    • Khai thác, bổ sung thêm các tài liệu lưu trữ quốc tế từ các cơ quan lưu trữ của Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Pháp và các tài liệu mật thám Pháp liên quan đến các giai đoạn hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn rõ rệt cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp hệ thống tư liệu đã được xác minh, các luận điểm khoa học có giá trị tham khảo cao về cấu trúc lý luận giải phóng dân tộc (Chương 3) và các nhận xét về tính sáng tạo trong xây dựng mô hình tổ chức tiền thân (Chương 5).
  • Đối với cán bộ làm công tác tư tưởng, tuyên giáo và xây dựng Đảng: Cung cấp căn cứ lý luận và lịch sử phục vụ công tác giáo dục chính trị tư tưởng, triển khai các chỉ thị, nghị quyết về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của luận án là gì?

Luận án nhằm làm sáng rõ quá trình chuẩn bị, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc và rút ra những nhận xét về quá trình này. Nhiệm vụ gồm: hệ thống hóa tư liệu; làm rõ vai trò của Người trong xác định con đường cứu nước, chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng và soạn thảo Cương lĩnh đầu tiên; đúc kết những nhận xét khoa học về sự sáng tạo tư tưởng và hoạt động thực tiễn.

2. Nguồn tư liệu chủ yếu nào được tác giả sử dụng trong công trình?

Tác giả sử dụng 4 nguồn chính: bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, 2011), bộ Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập, 1993–1996), bộ Văn kiện Đảng toàn tập (từ 1998); các công trình nghiên cứu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đề tài cấp Nhà nước (KX.02, KX.03, KX02-12); các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành (Lịch sử Đảng, Cộng sản...); và các công trình của học giả quốc tế (E. Cô-bê-lép, Furuta Motoo, William Duiker, S. Quinn-Judge...).

3. Theo tổng quan tài liệu trong luận án, tác giả Mạch Quang Thắng đã đưa ra luận điểm nào về quy luật thành lập Đảng?

Trong cuốn Hồ Chí Minh con người của sự sống (2010), GS. Mạch Quang Thắng cho rằng ngoài 3 yếu tố (Chủ nghĩa Mác - Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước), tư tưởng Hồ Chí Minh là yếu tố thứ tư cấu thành quy luật ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện qua sơ đồ: Chủ nghĩa Mác - Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước + Tư tưởng Hồ Chí Minh = Sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.

4. Luận án phân tích sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong hoạt động thành lập Đảng ở những điểm nào?

Sự sáng tạo trong hoạt động thành lập Đảng được tác giả luận chứng ở hai điểm cốt lõi trong Chương 5:

  1. Tính chủ động, quyết đoán: Chủ động từ Xiêm sang Hồng Kông triệu tập Hội nghị hợp nhất khi chưa có chỉ thị trực tiếp từ Quốc tế Cộng sản, giải quyết dứt điểm mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản.
  2. Lựa chọn lộ trình phù hợp: Thành lập tổ chức quá độ (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên), xuất bản báo chí, mở lớp đào tạo cán bộ, đưa cán bộ về nước "vô sản hóa" để chuẩn bị chín muồi các điều kiện trước khi thành lập chính đảng vô sản chính thức.

5. Những số liệu nào trong văn bản chứng minh cho chính sách bóc lột và ngu dân của thực dân Pháp tại Việt Nam?

Trong Chương 2, tác giả dẫn các số liệu lịch sử: đến năm 1914, Pháp chiếm 10,6 triệu km² thuộc địa với 55,5 triệu dân (so với chính quốc chỉ 0,5 triệu km² và 39,6 triệu dân); tại Việt Nam thuộc Pháp, chính quyền thực dân mở tới 1.500 ty rượu và thuốc phiện cho 1.000 làng, trong khi chỉ có 10 trường học cho cùng số lượng làng đó.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam" của tác giả Phạm Quốc Thành là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo có hệ thống, nghiêm túc và nhất quán về mặt phương pháp luận. Tác giả đã khai thác sâu sắc khối tư liệu từ Hồ Chí Minh toàn tập (2011) và Văn kiện Đảng toàn tập để luận giải toàn diện quá trình chuẩn bị tư tưởng, chính trị, tổ chức và sự kiện hợp nhất thành lập Đảng đầu năm 1930. Công trình làm rõ vai trò quyết định của lý luận giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh và những cống hiến sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao cho nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng.