Chương 1: TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI 1. Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm 1975 – 1986 Sau Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiết tranh, lặp lại hòa bình ở Việt Nam, Mĩ rút hết quân về nước. Miền Bắc tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, ra sức chi viện cho miền Nam; trong khi đó miền Nam tiếp tục thực hiện cách mạng. Trong giai đoạn thực hiện công cuộc vừa khắc phục hậu quả do chiế tranh phá hoại của Mĩ, vừa là hậu phương vững chắc cho miền Nam, miền Bắc đã có những bước phát triển về kinh tế.
“Đến cuối năm 1974, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên một số mặt quan trọng đã đạt và vượt mức năm 1964 và năm 1971 – hai năm đạt mức cao nhất trong 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tổng sản phẩm xã hội năm 1973 cao hơn năm 1965, năm 1974 cao hơn năm 1973 là 12,4%. Sản lượng lúa năm 1973 là 5 triệu tấn; đến năm 1974, mặc dù có những khó khăn do thiên tai, miền Bắc cũng đạt được 4,8 triệu tấn. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp năm 1974 tăng 15% so với năm 1973.
Về vật chất – kĩ thuật, miền Bắc đã có những nỗ lực phi thường, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu to lớn và cấp bách của cuộc tổng tiến công chiến lược ở miền Nam”1. Tuy trải qua hơn 20 năm (1954 – 1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây dựng được những cơ sở vật chất – kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Nhưng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc: “Chiến tranh phá hoại của Mĩ đã phá hủy hầu hết những cái mà nhân dân ta đã tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quá trình tiến lên sản xuất lớn chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm”2. 1 Lịch sử 12 Nâng Cao (2009), Nhà xuất bản Giáo dục – Bộ giáo dục đào tạo, Hà Nội, tr.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Sđd, tr. 4 Cuộc chiến tranh của Mĩ đã gây ra hậu quả nặng nề không chỉ ở mặt kinh tế, sản xuất mà còn gây ra rất nhiều thiệt hại về đời sống xã hội, nhiều làng mạc, ruộng đồng bị đốt phá, vô số bom mìn còn vùi lấp trên các cánh đồng, ruộng vườn, nơi cư trú của nhân dân, số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, chế độ thực dân mới của Mĩ cùng bộ máy chính quyền Sài Gòn ở trung ương bị sụp đổ, nhưng cơ sở của chính quyền này ở địa phương cùng bao di hại của xã hội cũ vẫn còn tồn tại. Nền kinh tế miền Nam cơ bản mang tính chất kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển không cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài.
Chính vì vậy, sau khi giải phóng, đất nước Việt nam bắt đầu bước vào giai đoạn khắc phục những hậu quả do chiến tranh và khôi phục, phát triển nền kinh tế - xã hội ở cả hai miền. Mô hình chủ nghĩa xã hội trước đổi mới 1. Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) a) Bối cảnh lịch sử: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cuộc Kháng chiến chống Mỹ đã đạt được thắng lợi. Hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn 20 năm chia cắt.
Nhiệm vụ đầu tiên được Đảng đặt ra là thống nhất hai chính quyền khác nhau ở hai miền. Chính vì vậy, ngày 25/4/1976 nhân dân cả nước đã tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất. Quốc hội đã ra những quyết định lịch sử về quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, xác lập hệ thống bộ máy nhà nước. Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước, các Phó Chủ tịch nước, chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, thông qua danh sách Hội đồng quốc phòng, Hội đồng Chính phủ và thành lập Uỷ ban của Quốc hội.
Các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội trên cả hai miền đất nước nhanh chóng tiến hành đại hội hợp nhất và đi vào hoạt động. Thắng lợi của cuộc Kháng chiến chống Mỹ và công việc bầu cử thể hiện ý chí đoàn kết toàn dân tộc quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, 5 nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất.
Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”1. b) Nội dung của Đại hội: Đại hội đã nêu ra ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới: “Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi rất lớn song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra. Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn gay go, quyết liệt”2.
Đại hội khẳng định Việt Nam có đủ điều khiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân phải phát huy cao tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng. Trong ba đặc điểm thì đặc điểm đầu tiên là lớn nhất, quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để, đồng thời cũng quy định tính lâu dài, khó khăn và phức tạp của cuộc cách mạng. Đại hội đã thảo luận, đánh giá và quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn đất nước. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước bao gồm: Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới và Đường lối xây dựng, phát triển kinh tế.
Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới của nước ta: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, 1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 6 cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”1 Đại hội xác định đường lối xây dựng, phát triển kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc.
Nhằm thực hiện mục tiêu đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo đường lối đã xác định, Đại hội đã đề ra Kế hoạch 5 năm (1976 – 1980) phát triển và cải tạo kinh tế, văn hóa, phát triển khoa học, kỹ thuật nhằm cùng một lúc hai 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.998 7 mục tiêu vừa cơ bản vừa cấp bach: xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa nhân dân. c) Ý nghĩa của Đại hội: Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng là Đại hội đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được thống nhất hai miền Nam, Bắc. Đại hội đã thành công tốt đẹp, thu được những kết quả to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, khẳng định và xác định được đường lối đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.