Chương 1. QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN (THẾ KỈ XVI – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX) 1. Quá trình tiếp nhận vùng đất Nam Bộ của các Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XIX 1. Giai đoạn chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII - XVIII Vùng đất Nam Bộ được khẩn hoang và khai thác khi có lưu dân Việt di cư vào thế kỉ XVII gắn liền với sự kiện Nguyễn Hoàng trấn thủ vùng đất Thuận Hóa.
Qúa trình hợp nhất vùng đất Nam Bộ là sự kết hợp nhuần nhuyễn và khéo léo về quân sự, chính trị, ngoại giao của chính quyền chúa Nguyễn với các nước láng giềng. Để tăng cường vị thế của vùng đất Đàng Trong, chúa Nguyễn Hoàng tiến hành mở rộng lãnh thổ về phía Nam thông qua các hoạt động quân sự, đánh bại các cuộc tấn công của Chiêm Thành. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng phái Lương Văn Chánh đem quân sang đánh, chiếm một vùng đất lập phủ Phú Yên, chia làm hai huyện Đồng Xuân, Tuy Hòa. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên thì xác lập chủ quyền bằng con đường chính trị mềm dẻo và khôn khéo hơn.
Năm 1623, sau khi giúp Chân Lạp đánh bại cuộc tấn công xâm lược của Xiêm và dựa vào quan hệ hôn nhân giữa vua Chiêm Thành là Chay Chetta II với công nương Ngọc Vạn, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cử người dâng các tặng phẩm mừng chiến thắng, đề nghị chính quyền Chân Lạp cho lập 2 sở thu thuế ở Prei Nokor (Sài Gòn) và KasKrobei (Bến Nghé) để bảo vệ thành quả khẩn hoang của lưu dân Việt ở vùng này. Việc này đặt cơ sở pháp lí quan trọng khẳng định chủ quyền của chúa Nguyễn tại vùng đất Nam Bộ. Nơi đặt sở thu thuế là vùng thu hút đông đảo thuyền buôn từ các nơi đến, góp phần thúc đẩy nhanh chóng việc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên vùng đất này. Năm 1672 diễn ra sự kiện Mô Xoài, chúa Nguyễn Phúc Tần đã phái Nguyễn Phước Yến giúp Chân Lạp giải quyết mối bất hòa trong hoàng gia, đánh bại quân Luan van 10 Xiêm, đưa Nặc Thu lên làm vua Chân Lạp.
Sau sự kiện này, lưu dân Việt đến vùng đất Mô Xoài, Đồng Nai ngày càng đông. Năm 1679, hai nhóm người Hoa “phản Thanh phục Minh” xin tá túc và sinh sống ở Đàng Trong. Chúa Nguyễn phái quan lại dẫn đường để họ định cư ở Biên Hòa và Mỹ Tho.Tại đây họ lập nên phố xá và khu vực mua bán, nơi này nhanh chóng trở thành trung tâm mua bán sầm uất nổi tiếng của Đàng Trong như Nông Nại đại phố, Mỹ Tho đại phố. Sự hình thành các trung tâm đô thị lớn đã làm cho số dân của vùng đất này tăng lên nhanh chóng.
Người Việt, người Hoa, người Chăm đến sinh sống và định cư ở đây ngày càng nhiều. Những vùng trước kia hoang vu rậm rạp bấy giờ đã có số dân tới 4 vạn hộ. Họ khai phá đất hoang, hình thành làng mạc thôn xóm. Với số lượng người Việt tăng lên nhanh chóng, chúa Nguyễn tìm cách xác lập quyền cai quản của mình trên vùng đất này.
Năm 1698 Chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất phía Nam. Theo Đại Nam thực lục:“Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại làm dinh đặt phủ Gia Định, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị” (Trịnh Hoài Đức,1998, tr. Sau khi thành lập dinh Trấn Biên chúa Nguyễn Phúc Chu cũng cử tướng Trương Phúc Phan làm trấn thủ tại đây.
Dinh Trấn Biên bao gồm toàn bộ khu vực huyện Phước Long và khu vực phía đông như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu và các đảo, quần đảo từ bờ biển đổ ra. Vùng đất mới ngày càng được mở rộng, chúa Nguyễn chiêu mộ dân lưu tán từ Bố Chính vào Nam đến khai hoang lập ấp, cho người Hoa ở Trấn Biên lập xã Thanh Hà, người Hoa ở Phiên Trấn lập xã Minh Hương. Đây được coi là việc xác lập chủ quyền theo hình thức “dân đến mở đất trước nhà nước đến cai trị sau”. Như vậy, sự kiện trên đã chính thức đánh dấu quyền quản lí hành chính của chúa Nguyễn tại vùng đất Nam Bộ.
Cùng với việc làm chủ vùng đất liền thì chúa Nguyễn cũng tiến hành kiểm soát các vùng biển và hải đảo như Côn Lôn, Phú Quốc, Hoàng Sa thông qua hoạt động của đội Bắc Hải: Luan van 11 Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải không biết bao nhiêu suất, người thôn Tứ Chính, Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn tiến sưu và các thuế tiền đò, cho thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, Côn Lôn, Hà Tiên tìm lượm sản vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba (Lê Qúy Đôn, 1977, tr. Việc thành lập đội Bắc Hải đã cho thấy chính quyền chúa Nguyễn đã kiểm soát một khu vực biển rộng lớn kéo dài từ khu vực Bình Thuận cho đến cảng Hà Tiên. Trên các đảo này, chính quyền chúa Nguyễn chú trọng khuyến khích lưu dân đến khẩn hoang, khai thác sản vật. Theo ghi nhận của tác giả Trần Nam Tiến thì trên các đảo Côn Đảo, Phú Quốc từ rất sớm đã có cư dân đến sinh sống: Ở phía đông và phía Bắc vùng biển, người ta thấy một bãi cát rộng khoảng nửa dặm, trên đó có những túp liều của dân nằm rải rác và hỗn độn, khi đó dân trên đảo khoảng 200 người ” (Trần Nam Tiến, 2018, tr.
Đầu thế kỉ XVII các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, Thanh Châu được thành lập, có nhiệm vụ khai thác sản vật, hóa vật và bảo vệ chặt chẽ an ninh vùng biển. Vùng biển phía Tây Nam được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt thông qua sự kiện Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn vào năm 1708. Mạc Cửu vốn là người Quảng Đông (Trung Quốc), vào năm 1699 đã xin phép vua Chân Lạp đến khai khẩn vùng đất Hà Tiên và sau đó được vua Chân Lạp giao cai quản vùng đất này. Mạc Cửu chiêu mộ dân khai hoang mở đất, lập nhiều phố xá, trung tâm mua bán và sòng bạc.
Vùng đất hoang vu rậm rạp này nhanh chóng trở thành thị tứ đông đúc gọi là Hà Tiên trấn. Chính điều này đã thu hút đông đảo dân cư từ khắp các nơi tìm đến sinh sống và buôn bán. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức:“ Đường xá giao nhau, phố xá nối liền, người Việt, người Tàu người Cao Miên, người Chà Và đều họp nhau sinh Luan van 12 sống, ghe thuyền ở sông biển qua lại như mắc cửi thật là nơi đại đô hộ ở biển vậy” (Trịnh Hoài Đức, 1999, tr. Do có quá trình sinh sống và khai thác lâu dài trên các vùng biển đảo nên người dân lập thành lập nhiều ngôi làng như: Cù Lao Chàm, Đại Côn Lôn, làng An Vĩnh, Cù Lao Ré, làng Hà Trung, xã Cảnh Dương.
Họ tiến hành khai khẩn và trồng trọt, làm nông kết hợp với đánh bắt thủy sản. Thôn Lý Hòa châu Nam Bố Chính đất ấy là dư khí của núi Lệ Đệ rủ xuống thành một bãi cát bằng nổi cao và mở rộng, dân cư ở ngang bãi trông về hướng Nam, đuôi bãi từ bên tả ôm lấy, sông Thuận Cô từ bên hữu chạy lại làm tiền đường, một dải cát thôn Thuận Cô làm án, cho nên nhân đinh thịnh vượng đến hơn nghìn người (Lê Qúy Đôn, 1977, tr. Ngoài những làng dân tự lập thì trong quá trình khai khẩn vùng biển đảo chúa Nguyễn cũng cho lập nên các làng mới và bố trí ở đây các đội tuần tra và giám sát. Họ có nhiệm vụ là giám sát, tuần tra và báo cáo về chính quyền khi có sự xuất hiện của thuyền nước ngoài trên biển.
Các lực lượng này đều là dân ở các vùng ven biển họ là lực lượng bán quân sự vừa có nhiệm vụ khai thác hải vật vừa là tai mắt của triều đình. Đây được coi là lực lượng dân sự đầu tiên của chúa Nguyễn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vững chắc vùng biển, đồng thời thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với chính quyền phong kiến. Ở các khu vực cửa biển quan trọng đều có bộ trí những trạm gác, giúp cho chính quyền có thể quản lý chặt chẽ, tránh sự tấn công của quân Trịnh từ phía Bắc hay Chân Lạp, Xiêm từ phía Nam. Trong các làng kể trên thì làng Hà Trung thuộc huyện Phú Vang đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác giữ gìn và phòng thủ vùng ven biển Thuận Hóa.
Phủ Biên Tạp lục của Lê Qúy Đôn cũng đã ghi nhận về đặc điểm địa hình và dân cư của huyện Phú Vang: Huyện Phú Vang dưới thì núi, giữa thì đầm phá, dưới thì biển. Phá Hà Trung rộng lớn không thấy bờ không biết bao nhiêu mẫu khoảng dân cư ở vòng quanh bốn bề, hải vật nhiều thứ không kể xiết, nhà nước không có thóc thuế thiếu, Luan van 13 dân cư không phải đói ăn, áo cơm đầy đủ kho vựa thường đầy (Lê Qúy Đôn, 1977, tr. Những dân chứng trên đã cho thấy vùng đất Thuận Hóa có những điều kiện thuận lợi tạo điều kiện cho dân cư tới đây sinh sống. Theo ghi chép của T.S Võ Vinh Quang ở phân viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Huế cho rằng dân cư làng Hà Trung đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý vùng biển trước khi đội Hoàng Sa ra đời.
Trong bài viết của mình tác giả đã cho rằng làng Hà Trung được thành lập sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ tại vùng đất Thuận Hóa Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558) chúa Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn thủ vùng Thuận Quảng tức là Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam lúc đó, 6 ngài Thỉ tổ của 6 họ làng Hà Trung là họ La, họ Mai, họ Bùi, họ Trấn, họ Đặng, họ Văn được theo phò giá, chiếm đóng Thuận Quảng, hành trình bằng đường thủy vào cửa Tư Đông [Tư Dung] là cửa Tư Hiền ngày nay. Đầu tiên tạm đóng ở phường Nhất Hà Trung nay vẫn còn dấu tích (Đỗ Bang, 2017, tr. Đường đi vào vùng này sẽ đi từ cửa biển Tư Hiền đến vùng đầm Hà Trung, từ Thuận Hóa rồi đến kinh đô Phú Xuân. Như vậy vùng đầm Hà Trung là con đường là cửa ngõ quan trọng để tiến xuống kinh đô.