Chương 1 QUÁ TRÌNH THUC HIỆN CHÍNH SÁCH DAN TOC CUA DANG Ở TINH TUYẾN QUANG TRƯỚC NĂM 2001 1. Đặc điểm tỉnh Tuyên Quang Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã sớm di theo cách mạng dé chống dé quốc và phong kiến tay sai. Trong thời kỳ vận động giải phóng dân tộc 1939-1945 và thời kỳ kháng chiến chống Pháp xâm lược 1945-1954, với vị thé của vùng đất có “thién thời, địa lợi, nhân hòa”, cơ sở cách mang vững chắc và địa thế núi sông hiểm trở, Tuyên Quang đã trở thành Thủ đô Khu giải phóng, nơi Bác Hồ và Trung ương Đảng đã ở và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi; là Thủ đô Kháng chiến, nơi Đảng tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhiều tên đất, tên người Tuyên Quang gan liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, gan liền với những hình ảnh và kỷ niệm sâu đậm về Bác Hồ kính yêu đang được lưu giữ và sống động trong lòng nhân dân cả nước.
Tuyên Quang thực sự xứng đáng là Thủ đô khu giải phóng và Thủ đô Kháng chiến. Ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa III) ra Nghị quyết số 247-NQ/TW về việc bỏ khu hợp tỉnh. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tại kỳ họp thứ hai, ngày 27-12-1975,Quốc hội khóa V quyết định hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tinh Hà Tuyên [1, 13]. Ngày 12-8-1991, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tinh Hà Giang và Tuyên Quang.
Từ ngày 1-10-1991 hai tinh Hà Giang và Tuyên Quang chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới [1, 191]. Như vậy, sau 16 năm hợp nhất với tinh Hà Giang, năm 1991 tỉnh Tuyên Quang được tái lập với diện tích tự nhiên 5.800,9 ha; dân số 598.050 người, gồm 22 dân tộc, 90% dân số sông ở nông thôn. Tỉnh có 6 đơn vị hành 14 chính, gồm thị xã Tuyên Quang và các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương. Đơn vị hành chính cấp cơ sở có 3 phường, 7 thị tran, 135 xã (trong đó có 36 xã vùng cao).
Toàn Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang có 21.002 đảng viên, sinh hoạt trong 394 tô chức cơ sở Đảng [1, 192-193]. Tuyên Quang là tinh miền núi phía Bắc có toa độ dia lý 21°30'- 22°40' vĩ độ Bắc và 104”53'- 105°40' kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 165 km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.868 km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước; phía bắc giáp Hà Giang, phía nam giáp Phú Thọ, phía đông giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, phía tây giáp Yên Bái. Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh là quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh dài 90 km từ Phú Thọ lên Hà Giang, quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái.
Hệ thống sông ngòi của tỉnh bao gồm 500 sông suối lớn nhỏ chảy qua các sông chính như sông Lô, sông Gam và sông Phó Day [34, 1]. Địa hình Tuyên Quang bao gồm vùng núi cao chiếm trên 50% điện tích toàn tỉnh gồm toàn bộ huyện Na Hang, 11 xã vùng cao của huyện Chiêm Hoá và 02 xã của huyện vùng cao Hàm Yên; vùng núi thấp và trung du chiếm khoảng 50% diện tích của tỉnh, bao gồm các xã còn lại của 02 huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương. Điểm cao nhất là đỉnh núi Chạm Chu (Hàm Yên) có độ cao 1.587 m so với mực nước biên [34, 1]. Tuyên Quang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh - khô hạn và mùa hè nóng âm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến thang 8 và thường gây ra lũ lụt, lũ quét.
Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường xảy ra trong mùa mưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22 - 24”C. Cao nhất trung bình 33 - 35C, thấp nhất trung bình từ 12 - 13°C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch) gây ra các hiện tượng sương muối [34, 2]. Với đặc điểm địa lí, địa hình, khí hậu như vậy, Tuyên Quang trở thành mảnh đất hội tụ của nhiều dân tộc với sự đa dạng về văn hóa tộc người.
Tuyên Quang ngày nay gồm 22 dân tộc chung sống xen kẽ, có dân tộc vốn là người 15 bản địa, có dân tộc nhập cư vào tỉnh qua các thời kì lịch sử. Các dân tộc trong tỉnh cùng sống xen kẽ trên một lãnh thổ với một nền văn hóa chung và đa dạng về hình thái biểu hiện. Về ngôn ngữ, các dân tộc ở Tuyên Quang thuộc các ngữ hệ Nam Á, Hán -Tạng và Thái với nhiều nhóm ngôn ngữ : nhóm ngôn ngữ Việt - Mường có người Kinh; nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao gồm các dân tộc Mông, Dao, Pà Thẻn ; nhóm ngôn ngữ Hán gồm các dân tộc Hoa, Sán Diu ; nhóm ngôn ngữ Tang - Miến gồm dân tộc Hà Nhì, Lô Lô; nhóm ngôn ngữ Tay - Thái gồm các dân tộc Tay, Thái, Nùng, Giáy, Bố Y; nhóm ngôn ngữ hỗn hợp gồm các dân tộc La Chí, Cơ Lao, Pu Péo [18, 139-142]. Kết cau dân tộc ở Tuyên Quang : Theo kết quả điều tra ngày 1-4-1999, tỉnh Tuyên Quang có 676.
Trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 377.314 người, chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có 22 dân tộc cùng sinh sống. Đông nhất là dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm 48,21%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tay có 172.136 người, chiếm 25,45%; dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 11,38%; dân tộc Sán Chay có 54.095 người, chiếm 8,0%; dan tộc Mông có 14.658 người, chiếm 2,16%; dan tộc Nùng có 12.891 người, chiếm 1,90%; dân tộc San Diu có 11.007 người, chiếm 1,62%; các dân tộc khác chiếm 1,28%. Các dân tộc sống xen kẽ,phân bố không đồng đều trong các bản làng, tập trung đông ở các xã miễn núi, vùng sâu, vùng xa.
Toàn tỉnh còn 52 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn [34, 2]. Tuyên Quang vừa là cai nôi, điểm hội tụ văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số trong vùng vừa là nơi giao lưu hội nhập với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng. Văn hóa tinh than của các dân tộc phong phú với nhiều thể loại truyện cô tích, truyện thỏ, ca dao, tục ngữ. Mỗi dân tộc có tiếng nói, trang phục riêng, những phong tục tập quán riêng trong việc cưới, tang, thờ cúng, lễ hội.
Tuyên Quang chính là hình ảnh thu nhỏ của vùng văn hóa Việt Bắc. Những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiêu số ở tỉnh thé hiện trong đời sông tinh than khá rõ nét. Đó là những quan niệm và cách giải thích về vũ trụ, 16 các nghi lễ như: Thờ cúng tô tiên, cúng chữa bệnh, cưới hỏi. Đồng bào các dân tộc thiêu số đã tạo dựng được một kho tàng dân ca, dân vũ hết sức phong phú, đặc sắc như làn điệu then, cọi, quan làng (dân tộc Tày), páo dung (dân tộc Dao), sình ca (dân tộc Cao Lan), soọng cô (dân tộc Sán Dìu).
Về lễ hội, có nhiều sắc thái văn hóa rất đặc trưng va đa dạng, tiêu biểu là những lễ hội dân gian thường được tô chức sau tết Nguyên Đán với phần “lễ” diễn ra hết sức trang trọng và phần “hội” đậm đà truyền thống. Lễ hội Lồng tông (lễ hội xuống đồng) được tổ chức ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm, mang đậm sắc thái văn hóa của dân tộc Tày. Lễ Cầu mùa của dân tộc Dao được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm, không cầu kỳ nhưng mang nhiều yếu tố tâm linh sâu sắc của cả cộng đồng, được tô chức với ý nghĩa cầu mong một mùa màng bội thu. Lễ hội Nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn mừng cho một vụ thu hoạch hoa màu vừa kết thúc và cầu thần linh phù hộ cho an khang, thịnh vượng cũng như xua đuôi tà ma, bệnh tật, thể hiện sức mạnh phi thường của con người.
Lễ Cấp sắc là một thủ tục không thé thiếu trong cuộc sống sinh hoạt của dân tộc Dao. Đối với người đàn ông dân tộc Dao, sau khi cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp với cdi âm. Trong công cuộc đổi mới đất nước, với đường lối chính sách của Dang và Nhà nước, nền văn hóa các dân tộc Tuyên Quang có điều kiện vừa bảo tồn phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc mình, vừa tiếp thu tinh hoa của các dân tộc từ các vùng miễn trong cả nước, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà ban sắc dan tộc. Sự chuyển đổi cơ chế quan lí nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường được thực hiện từ năm 1986, đến nay nền kinh tế Tuyên Quang đang có những bước tăng trưởng khá, phát triển kinh tế trên các lĩnh vực nông - lâm - công nghiệp và dịch vụ.
Nông nghiệp: Tuyên Quang là tỉnh miền núi,đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng đặc biệt là các cây công nghiệp. Trong trồng trọt, cơ cấu cây 17 lương thực vẫn là chủ yếu, cây công nghiệp và cây thực phẩm cũng giữ vị trí quan trọng, đặc biệt cây cam là cây trồng thế mạnh của huyện Hàm Yên, cây chè cũng là cây công nghiệp được chú trọng, cây mía được trồng ở nhiều nơi của huyện Chiêm Hóa và Sơn Dương. Chăn nuôi gia súc,gia cầm của tinh cũng được đây mạnh, Tuyên Quang là tỉnh có đàn trâu lớn của vùng, chăn nuôi lợn được đầu tư, những trang trai ga, vit của các hộ sản xuất có qui mô lớn phát trién. Lâm nghiệp: Đến năm 1996 Tuyên Quang có 220.616 ha rừng tự nhiên, có 60.898 ha rừng trồng [1, 278].
Những năm 1997-2000, tỉnh đã tập trung lãnh đạo tiếp tục đây mạnh trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, tô chức thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng. Công nghiệp: Tỉnh ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển điện lực. Tinh ủy đã chi đạo khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển, xây dựng khu công nghiệp Long - Bình - An của tỉnh tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh nhà.