Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI PP SĐHKT đã được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều tác giả trong giảng dạy đại học. Có nhiều công trình đã được công bố, mỗi công trình nghiên cứu mang đến những đóng góp riêng về một khía cạnh của việc áp dụng PP SĐHKT trong giảng dạy đại học nói chung. Dựa trên việc tổng quan các nghiên cứu trước đó liên quan đến việc áp dụng PP SĐHKT trong môn học LSĐCSVN. Luận án đã khái quát lại những nội dung cơ bản, có giá trị đối với đề tài và đề xuất các vấn đề tiếp tục được giải quyết trong quá trình thực hiện luận án về việc áp dụng PP SĐHKT trong môn học LSĐCSVN cho SV các trường đại học Y tế khu vực phía Bắc.
Những nghiên cứu về vận dụng PP SĐHKT trong dạy học nói chung 1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Khi tiếp cận các nguồn tài liệu nước ngoài về việc vận dụng PP SĐHKT, chúng tôi nhận thấy nhiều quan niệm, cách thức tiếp cận về PP sơ đồ, PP SĐHKT, tầm quan trọng và ý nghĩa của PP SĐHKT, nguyên tắc, quy trình và biện pháp sử dụng SĐHKT. * Về quan niệm PP sơ đồ và PP SĐHKT trong DH Quan niệm về PP SĐHKT đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố, tuy nhiên mỗi tác giả có những góc độ tiếp cận và đưa ra quan điểm khác nhau.Xokhor là tác giả đầu tiên sử dụng lý luận sơ đồ để tóm tắt khái niệm, định luật, nội dung của sách giáo khoa và coi sơ đồ như là một mô hình dùng để tóm tắt tài liệu, mô tả nội dung của tài liệu và việc tóm tắt đó được tác giả gọi là “Cấu trúc logic của tài liệu”. Trong sơ đồ đó, mỗi khái niệm, định luật hoặc nội dung sẽ được được đặt vào một riêng, sơ đồ mà có nhiều khái niệm hoặc nhiều nội dung thì sơ đồ đó sẽ có nhiều ô khác nhau, mối liên hệ giữa các ô trong sơ đồ đó được kẻ bằng mũi tên.
Tác giả cho rằng, mô hình đó chính là một phương tiện, công cụ quan trọng để tóm tắt nội dung sách giáo khoa làm cho nội dung ngắn gọn 9 và người dạy thuận lợi sử dụng để truyền đạt nội dung bài học cho học sinh, học sinh nhớ bài nhanh hơn, cụ thể hơn [110; tr. Như vậy, SĐHKT không chỉ là một công cụ giúp tóm tắt và tổng hợp kiến thức mà còn là một phương pháp mà người giảng dạy có thể áp dụng trong giảng dạy LSĐCSVN ở các trường đại học. Năm 1975, cuốn sách“Hình thành khái niệm trong DH địa lý” của các tác giả Wolfgang Doran – Walter Jabn (Nguyễn Trần Kiều dịch), sơ đồ được coi là một công cụ hỗ trợ quá trình giảng dạy của giáo viên để truyền tải thông tin bài học đến người học và người học tiếp cận, tiếp cận nội dung bài học được nhanh và đơn giản nhất. Từ quan điểm này, ta có thể hiểu rằng sơ đồ là một PPDH hoặc công cụ đồ họa truyền đạt, có những ưu điểm đặc biệt khi dùng để DH, đặc biệt là khi truyền đạt kiến thức lớn cho người học được nhanh nhất có thể và trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể [151].
Năm 1984, với cuốn sách “Giáo dục học” của N. Savin (một nhà giáo dục học của Liên Xô), khẳng định: “PPDH bằng SĐ là một trong những PPDH đặc biệt hiệu quả với khả năng khái quát kiến thức và truyền đạt nhanh chóng, dễ hiểu cho học sinh. Như vậy, để tổng hợp kiến thức trong DH, sử dụng sơ đồ cũng là một trong những PP đem lại chất lượng tốt nhất có thể” [101; tr. Như vậy, sơ đồ vừa là một PPDH, vừa là phương tiện để tổng hợp nội dung tài liệu, kiến thức.
Năm 1970, cuốn sách “PPDH Hóa học” của tác giả Kirinskin và Poloxin, quan điểm cho rằng sơ đồ là một công cụ hữu ích để diễn đạt các bước thực hiện và cách GV tổ chức quá trình giảng dạy trong các tình huống đa dạng. Sự sử dụng sơ đồ giúp tăng cường các công việc học tập của học sinh cần phải làm, nhằm hình thành tư duy khoa học toàn diện của học sinh thông qua các hoạt động DH được tổ chức bởi giáo viên [29]. Như vậy, sơ đồ vừa là PTDH để mô tả QTDH thông qua các tình huống cụ thể vừa là PPDH hữu hiệu để khái quát hóa kiến thức để hình thành tư duy khoa học cho người học. Năm 1997, công trình “Graph và ứng dụng của nó”, của tác L.
Veregyna được ấn hành, giới thiệu về sơ đồ và tính ứng dụng của nó trên một số lĩnh vực khác nhau, trong đó có kinh tế và giáo dục. Trong lĩnh vực DH, tác giả giới thiệu cụ thể 10 khái niệm sơ đồ là gì? Tính ứng dụng cụ thể của nó trong dạy học thế nào? Sơ đồ diễn tả các nội dung thông tin bài học ra sao? Cuối cùng tác giả khẳng đinh “sơ đồ là mô hình diễn tả lại NDKT bài học bằng những từ khóa dễ hiểu, nhớ được lâu hơn” [148]. Năm 2009, cuốn sách “Sắp xếp với ý tưởng sơ đồ tư duy” của tác giả Jean – Luc Deladrièric và cộng sự (Trần Chánh Nguyên dịch), đã giải thích, đánh giá về cơ sở ra đời, những thế mạnh và nhược điểm khi áp dụng PTDH sơ đồ trong hoạt động DH. Sơ đồ có khả năng lớn trong việc tóm tắt thông tin bài học từ kiến thức lớn trở thành ngắn gọn, từ dạng phức tạp trở thành đơn giản, từ khó trừu tượng, khó hiểu thành dễ hiểu, truyền đạt nội dung bài học cho người học được nhanh nhất và nhiều nhất trong thời gian sớm nhất, tuy nhiên sơ đồ cũng là một phương tiện khó xây dựng, yêu cầu cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và hình thành kỹ năng CNTT trong sử dụng một số phần mềm thiết kế sơ đồ DH [77].
Năm 2010, tác phẩm “Lập SĐTD” của tác giả Tony Buzan (do Lê Huy Lâm dịch), khẳng định rằng sơ đồ là một PTDH ghi chép thông tin bài học trong hoạt động học tập ôn tập để người học dễ hiểu, nhất là những thông tin bài học trừu tượng khó hiểu hoặc thông tin bài học rất lớn, làm khó cho SV trong tiếp nhận nội dung bài học và việc ghi nhớ cũng không hề đơn giản. Sơ đồ cũng là PP để tóm tắt các nội dung của bài học được thực hiện thông qua hoạt động dạy học với các hình thức khác nhau [138]. Cuốn sách cho thấy, sơ đồ chính là công cụ hữu hiện trong việc ghi chép các tài liệu, giải thích cho người học dễ hiểu, hiểu nhanh, hiểu sâu và hiểu lâu hơn. Năm 2010, trong cuốn sách “Cuốn sách lớn với các hình tổ chức đồ họa dành cho giáo viên” của Katherine S.McKnight, cuốn sách đã khẳng định sơ đồ là một PPDH giúp tổ chức DH được thuận lợi và nhận thức của học sinh được nâng cao.
Ngoài ra, Katherine S.McKnight đặc biệt quan tâm tới việc phân loại sơ đồ và hướng dẫn sắp xếp, tổng hợp thông tin bài học qua sơ đồ. Trong DH, sơ đồ vừa là một PPDH có nhiều ưu thế, vận dụng ở mọi khâu của quá trình tổ chức DH, vừa là công cụ khái quát thông tin kiến thức từ trừu tượng trở nên ngắn gọn, dễ hiểu. Sơ đồ 11 có ưu thế hơn nhiều so với nhiều PPDH, kể cả là các PPDH tích cực khác, tuy nhiên khi sử dụng cần phải căn cứ vào mục đích sử dụng [161]. Ngoài ra, cuốn sách cũng đã hướng dẫn tổng hợp, tóm tắt nội dung bài học bằng sơ đồ, người học dễ dàng tiếp cận với nội dung kiến thức bài học.
Năm 2012, cuốn sách “Understanding Diagrams” của Christine Taylor – Butler, coi sơ đồ là PPDH được giáo viên lựa chọn để định hình chính xác khái niệm, nội dung định luật để triển khai cách thức dạy học thông qua đa dạng sử dụng PPDH tích cực, nhằm hình thành tư duy khoa học, nhận thức đúng đắn cho học sinh. Không chỉ thế sơ đồ còn là để triển khai các kế hoạch làm việc một cách chi tiết, cụ thể khoa học và chính xác nhất [157]. * Về tầm quan trọng, ý nghĩa của PP SĐHKT Cuốn sách“Hình thành khái niệm trong DH địa lý” của tác giả Wolfgang Doran khẳng định, sơ đồ chính là để tóm tắt và làm rõ khái niệm của các sự vật và hiện tượng nhằm giúp cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Cuốn sách đã giúp cho các nhà giáo dục học, nhất là giáo viên trong DH địa lý có được cuốn tài liệu quan trọng về hướng dẫn trong việc xây dựng và triển khai DH các nội dung địa lý, nhất là trong địa lý về tự nhiên bằng sơ đồ nhằm nâng cao DH [151].
Trong cuốn sách “Dùng hình vẽ SĐ để dạy toán ở cấp I” của L.Levenbeg, xuất bản năm 1982 đã cho rằng, trong DH toán ở cấp 1 có nhiều hình vẽ như biểu đồ, hình, sơ đồ, tranh, ảnh, số liệu,… từ đó, tác giả cuốn sách đã trình bày ý nghĩa riêng của các hình vẽ, sơ đồ, bản vẽ,… được trình bày trong nội dung DH, từ đó nghiên cứu cách sử dụng sơ đồ nhằm tận dụng triệt để ưu điểm của nó và khám phá khả năng của người học [86]. Đây chính là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc triển khai luận án cũng như cách sử dụng SĐHKT. Cũng với cuốn sách “Giáo dục học” (Phạm Thị Diệu Vân dịch) của N. Savin (một nhà giáo dục học của Liên Xô), dành riêng một chương để khái quát về các PPDH, nhất là PPDH SĐ trực quan để tổng hợp nội dung bài học.
Trong các PPDH thì PPDH trực quan (sơ đồ) có ưu thế hơn tất các các PPDH tích cực còn lại ở khả năng thu gọn thông tin kiến thức và đưa nội dung bài học đó đến người học nhanh 12 nhất và sử dụng hiệu quả nhất [101]. Năm 1980, cuốn sách “LLDH của các trường phổ thông” của M. Đanilôp, đã làm rõ một cách khái quát các PPDH cơ bản. Trong đó, cuốn sách này đặc biệt quan tâm tới PPDH sơ đồ, được trình bày trong 1 chương riêng (chương V).
Khẳng định trong DH nói chung, không thể thiếu được các PTDH, nhất là các PTDH trực quan tác động trực tiếp tới bộ não của người học như sơ đồ, tranh, ảnh, biểu đồ,… những PPDH trực quan này sẽ giúp cho quá trình tổ chức DH gây được sự hào hứng người học, mặt khác tạo điềukiện tốt nhất cho giáo viên trong việc truyền đạt nội dung bài học cho người học thuận lợi hơn, nội dung kiến thức bài học cũng trở nên sâu sắc và được hệ thống hóa ngắn gọn, đầy đủ, chính xác [44].