Chương 1 SỰ LANH DAO CUA DANG BỘ HUYỆN BA Vi DOI VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÁP HUYỆN TỪ NAM 1996 DEN NAM 2000 1. Huyện Ba Vi va tình hình đội ngũ cán bộ của huyện trước năm 1996 1. Vài nét về huyện Ba Vì Ba Vì (trong thời gian nghiên cứu của đề tài thuộc tỉnh Hà Tây) là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội. Với tổng diện tích 424km”, dân số hơn 265 nghìn người (bao gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao), toàn huyện có 31 xã, thị tran, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng.
Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc. Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, Ba Vì tái nhập Thủ đô Hà Nội từ tháng 8 năm 2008. Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng. Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Đất đai huyện Ba Vì được chia làm 2 nhóm: nhóm đất vùng đồng bằng và nhóm dat vùng đổi núi. Nhóm đất vùng đồng bằng có 12.892 ha bằng 41,1% diện tích đất đai toàn huyện. Nhóm đất vùng đôi núi: 18.478 ha bang 58,9% diện tích đất đai của huyện. Ba Vì là huyện có mạng lưới thủy văn hết sức độc đáo, xung quang gần như được bao bọc bởi hai đòng sông lớn là sông Hồng và sông Đà.
Ngoài ra trong khu vực còn có nhiêu dòng suôi nhỏ bắt nguôn từ trên đỉnh núi, mùa 10 mưa lượng nước lớn tạo ra các thác nước đẹp như thác Ao Vua, thác Nga, thác Khoang Xanh. Đứng trên đỉnh núi Ba Vì ta có thể quan sát được toàn cảnh non nước của vùng. Phía Tây là dòng sông Đà chảy sát chân núi. Phía Đông là hồ Đồng Mô, phía Bắc là hồ Suối Hai, xa hơn là dòng sông Hong.
Tat cả tạo nên cảnh tri non nước hữu tinh thơ mộng hiêm có của vùng núi Ba Vi. Theo số liệu thống kê năm 2008, diện tích rừng toàn huyện có 10.724,9 ha, trong đó rừng sản xuất 4.400,4ha, rừng phòng hộ 78,4 ha và 6.246ha rừng đặc dụng. Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao 400m trở lên. Rừng tự nhiên được phủ xanh bằng các loại thảm thực vật phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loại cây đặc trưng của rừng nhiệt đới thuộc phạm vi Vườn quốc gia Ba Vì.
Động thực vật ở huyện Ba Vì rất đa dạng, phong phú. Hiện nay, các nhà thực vật học Việt Nam ước tính ở Ba Vì có khoảng 2000 loại. Gồm thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới, bước đầu thống kê được 812 loài thực vật bậc cao với 88 họ thực vat, gồm nhiều loại gỗ quý hiểm như lát hoa, kim giao, sén, mật, sồi, dé, gai. Hai loại cây rất quý được ghi vào "Sách đỏ Việt Nam" là Bách xanh và Thông đỏ đang được bảo vệ nghiêm ngặt.
Động vật có 44 loài thú, 104 loại chim, 15 loại bò sat, 9 loại lưỡng cư.Đây là nguồn tài nguyên rừng quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt. Huyện Ba Vì có một hệ thống đường giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi nối liền các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc với toàn bộ đồng bang Bắc Bộ, trong đó có thủ đô Hà Nội - Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước. Từ trung tâm huyện ly theo quốc lộ 32 đi Sơn Tây về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ hoặc ngược Trung Hà đi Tây Bắc, Việt Bắc. Đồng thời cũng từ trung tâm huyện đi theo sông Hồng ngược lên Trung Hà, theo sông Lô, sông Thao lên vùng Việt Bắc, hoặc theo sông Đà đi Hoà Bình - cửa ngõ Tây Bắc của Tổ 11 quốc.
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số tuyến đường Tỉnh lộ như 411A, B, C; 412, 413, 414, 415 và các đường liên huyện, đê sông Hong, dé song Da. nối liền giữa các vùng, miền, các tinh, huyện bạn. Với những lợi thế về giao thông đường thủy, đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật dé phát triển kinh tế với cơ cấu : nông nghiệp, dich vu, du lịch, công nghiệp - tiêu thủ công nghiệp. Núi Ba Vì là cái nôi của huyền thoại Sơn Tinh, Thuy Tinh - Thần Tan Viên và thần Sông nước (sông Đà).
Xung quanh núi Ba Vì có nhiều nơi thờ Sơn Tỉnh - vị thánh đứng đầu trong Tứ bất tử mà điển hình là: Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, Đình Tây Đăng (Bắc Cung), Đền Và - Sơn Tây (Đông Cung), Đền Bồ - Tản Lĩnh (Nam Cung). Đến năm 2008 huyện Ba Vì có 63 di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng, được phân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện. Những di tích lịch sử này phan lớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuôi các vị anh hùng của dan tộc, danh nhân văn hoá. Nhiều di tích có tam cỡ quốc gia như: Đình Tay Dang, Đình Chu Quyền là 2 di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, Đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi đình cỗ nhất Việt Nam có niên đại 1531- thời Nhà Mạc, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh núi Ba Vì, Khu di tích K9.
Nhân dân Ba Vì vốn hiểu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm nhất là trong hai cuộc kháng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong thời kỳ đổi mới, Dang bộ, nhân dân huyện Ba Vì tiếp tục phát huy truyền thống quê hương, phát trién mạnh mẽ và vững chắc, góp phan thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân huyện Ba Vì đã 12 được Đảng và Nhà nước ghi nhận và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ, Huân chương lao động hạng nhất thời kỳ đôi mới. Ba Vì được thiên nhiên ưu đãi ban tặng hệ sinh thái phong phú, thảm thực vat da dạng, được coi là "lá phối xanh" phía Tây thủ đô Hà Nội, là điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nước.
Nơi đây có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp như: núi, rừng, thác, suối, sông, hồ cùng với các danh lam thắng cảnh nồi tiếng như: Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Hồ Tiên Sa, Thiên Sơn - Suối Ngà, Khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, hồ Suối Hai, Hồ Cam Quy, Rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Dam Long, Đồi cò Ngọc Nhị. Ba Vì có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú. Ba Vi có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rat thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Về kinh tế - xã hội Sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, đã từng bước phát triển theo hướng hàng hóa; tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Các dịch vụ nông nghiệp như: thủy lợi, khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật luôn luôn chủ động, bam sat thời vụ, dam bảo phục vụ sản xuất. Công tác dén điền, đôi thửa, chuyên đôi cơ cau cây trồng vật nuôi được triển khai tích cực ở các địa phương. Đến nay đã có 95 trang trại đạt tiêu chuẩn, 116 mô hình chuyên đôi quy mô nhỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các dự án chăn nuôi bò thịt, bò sữa, thủy sản đã phát huy được hiệu quả.
Nhiều sản phẩm nông nghiệp như: sữa, thịt, chè, rau trở thành sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động. 13 Công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, xây dựng: thu hút lớn sự đầu tư của các doanh nghiệp, góp phan giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động. Đã có 14 làng nghề được thành phố công nhận. Các ngành dịch vụ ngân hàng, bưu chính, viễn thông, điện lực tiếp tục phát triển mạnh.
Đã có 13 tổng đài có định, có 13 điểm cung cấp internet, bình quân 10 máy điện thoai/100 dân. Ngành du lịch được sự quan tâm đầu tư, có 15 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn với tổng diện tích đất dành cho du lịch trên 1.5 triệu lượt khách. Dau tư cơ sở hạ tang và sản phâm du lịch đạt 300 ty đồng. Huyện thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người có công và người hưởng chính sách xã hội, giải quyết cơ bản các trường hợp tồn đọng sau chiến tranh.
Hang năm tạo việc làm mới cho 8. Ty lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm là 3,3%, không có hộ đói. Các chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ, bình đăng giới và trẻ em được quan tâm của toàn xã hội; các quyền phụ nữ và trẻ em được đảm bảo. Thực hiện tốt chương trình quốc gia về phòng tện nạn xã hội.
Công tác bảo hiểm xã hội luôn hoàn thành tốt chỉ tiêu, đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội. Huyện thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh cho nhân dân, không có dịch bệnh lớn bùng phát trên địa bàn, công suất sử dụng giường bệnh đạt 120%. Hoàn thành các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, mạng lưới y tê cơ sở được tăng cường dau tu và củng cô. Chất lượng giáo dục, nề nếp, kỷ cương các nhà trường được nâng lên.
Đến năm 2008, toàn huyện, số cháu nhà trẻ đến lớp đạt 25,5%, mẫu giáo đạt 80%, học sinh lớp 1 đạt 100%. Đầu tư nâng cấp 779 phòng học mới, số phòng được kiên cố hóa chiếm 51,7%. Giữ vững phố cập giáo dục Tiêu học đúng độ tuổi và phô cập Trung học cơ sở. Đã có 18 trường đạt chuẩn quốc gia.
Công 14 tác xã hội hóa trong ngành giáo dục đạt được những kết quả tích cực; Huyện đã thành lập Trung tâm học tập cộng đồng tại 30 xã, thị tran. Nhìn chung, trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì có sự phát triển, có sự chuyên dịch trong cơ cau kinh tế nhất là ngành du lịch; đời sống nhân dân được ôn định; công tác xã hội được đây mạnh, quốc phòng - an ninh được củng có và giữ vững. Những kết quả đó liên quan trực tiếp đến sự lãnh đạo, tổ chức hoạt động của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của huyện.