CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số vấn đề lý luận về tuyển dụng công chức cấp xã 1. Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã - Công chức cấp xã: Quan niệm về công chức hiện nay ở các nước trên thế giới là đa dạng với nhiều cách hiểu còn khác nhau: Công chức theo các quốc gia như Xin-ga-po, Anh, Thái Lan chỉ quan niệm họ là đội ngũ những người thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ thuộc hệ thống hành chính của các Bộ của Chính phủ; Công chức theo các quốc gia như Trung Quốc, Nga, Ba Lan thì lại cho rằng, họ là đội ngũ những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ quản lý không chỉ ở trong hệ thống bộ máy hành chính của các Bộ thuộc Chính phủ, mà còn bao gồm trong hệ thống bộ máy hành chính thuộc chính quyền địa phương; Quan niệm công chức theo các quốc gia như Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha cho rằng họ bao gồm đội ngũ những người thực hiện công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công và cả ngành lập pháp, tư pháp.[13] Với nước Cộng hòa Pháp, quan niệm công chức được đề cập tại Điều 2 của Luật về Quy chế chung của công chức được ban hành vào ngày 13/7/1983 quy định: Công chức được dùng để gọi các viên chức nhà nước chính ngạch, được tuyển dụng, đề bạt vào một công việc thường xuyên (trong dự kiến ngân sách), được phân bổ vào một ngạch, bậc nhất định trong thứ bậc hành chính của nhà nước, vùng, tỉnh, xã và công sở tự quản, kể cả các cơ sở y tế.[16] Công chức (theo Từ điển Tiếng Việt [19; tr 207]) là thuật ngữ dùng để chỉ người được tuyển dụng và bổ nhiệm để giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước và được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp. Đáng chú ý là, kể từ sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế Công chức.
Theo Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950, đó là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân 7 luan an tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định. Về cơ bản, một số điểm chung về công chức, đó là: (1) Công dân của nước sở tại; (2) Làm việc trong các cơ quan nhà nước; (3) Được tuyển dụng bởi nhà nước; (4) Làm các công việc mang tính thường xuyên, liên tục; (5) Được trả lương từ ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 của Chính phủ quy định những người là công chức, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này. Công chức (theo Luật Cán bộ, Công chức năm 2008) là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Mới đây, công chức (theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức năm 2019) là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội 8 luan an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp xã (theo Luật Cán bộ, Công chức năm 2008) là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp xã (theo Khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008) có các chức danh sau: (a) Trưởng Công an; (b) Chỉ huy trưởng Quân sự; (c) Văn phòng - thống kê; (d) Tài chính - kế toán; (đ) Tư pháp - hộ tịch; (e) Văn hóa - xã hội; (g) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã). Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
Từ cơ sở tham khảo kế thừa nhiều giá trị hợp lý từ các quan niệm nêu trên – nhất là định nghĩa của pháp luật hiện hành, công chức cấp xã được hiểu là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào biên chế theo ngạch công chức để giữ một chức danh thuộc UBND cấp xã và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Tuyển dụng công chức cấp xã: Tuyển dụng là việc tuyển trong số nhiều người cùng loại để lấy một số lượng người nào đó theo yêu cầu, tiêu chuẩn đề ra [10]. Tuyển là việc tìm kiếm được đủ số lượng và chất lượng ứng viên tiềm năng để tổ chức có thể chọn những người thích hợp nhất đáp ứng nhu cầu công việc của mình [36; tr. Hoặc quan niệm tuyển dụng là quá trình chọn lựa các cá nhân có đủ điều kiện cần thiết để đảm nhận các công việc trong tổ chức; tuyển dụng không chỉ là chọn người tốt nhất có được mà chọn người có tập kiến thức, kỹ năng, năng lực phù hợp giữa ứng viên và tổ chức [8; tr.
Liên quan trực tiếp đến khu vực công, tuyển dụng nhân sự hành chính [23] được hiểu là việc đưa thêm người mới vào làm việc chính thức trong cơ quan hành chính nhà nước. Nói cách khác, các quan niệm về tuyển dụng đang còn 9 luan an tồn tại ở nhiều cách tiếp cận, song tựu chung là có hai xu hướng quan niệm phổ biến, đó là:[40] (1) Tuyển dụng theo ngạch chủ yếu tìm kiếm các ứng viên trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm nhưng có tiềm năng để bắt đầu một chức nghiệp (lựa chọn cá nhân dựa trên tiềm năng và năng lực về mặt dài hạn của họ). Về ưu điểm: tuyển dụng theo ngạch do yêu cầu năng lực rộng hơn nên khá linh hoạt trong bố trí, luân chuyển nhân sự hay thay đổi nhiệm vụ. Việc đào tạo luôn được coi là một phần của công việc nhằm giúp nhân sự thích nghi với nhiệm vụ mới.
Về ưu điểm: tuyển dụng theo vị trí việc làm đồng nghĩa với việc nếu muốn thay đổi công việc được giao thì người đó phải thay đổi vị trí của mình [39; tr.241]; Trong một môi trường tất yếu cạnh tranh để phát triển, tuyển dụng nhân sự được xem là hoạt động tìm kiếm trong số ứng viên để lựa chọn đúng người có khả năng mà vị trí công việc đang cần để đáp ứng mục tiêu chiến lược của cơ quan, đơn vị. Tuyển dụng như là một trong những cách thức mà tổ chức giải quyết tình trạng thiếu nguồn nhân lực của mình [41; tr. Đó là hoạt động tuyển chọn nhân sự vào một ngành, nghề thuộc một ngạch bậc nhất định hoặc bổ sung các vị trí công việc còn trống… Theo đó, tuyển dụng công chức là sự tiến hành lựa chọn những ứng viên dự tuyển có đủ điều kiện, tiêu chuẩn và khả năng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ nhất định tại các cơ quan, tổ chức trong hệ thống Nhà nước. Đúng vậy, tại Điều 3 của Nghị định số 117/2003/NĐ-CP đã xác định: Tuyển dụng công chức các cơ quan Nhà nước là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan Nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển.
Từ các cơ sở nêu trên, có thể hiểu: Tuyển dụng công chức cấp xã là công việc được tiến hành có trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lựa chọn những ứng viên dự tuyển có đủ điều kiện, tiêu chuẩn 10 luan an và khả năng vào vị trí việc làm mới hay đang còn trống trong cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị cấp xã nhằm đáp ứng căn bản yêu cầu nhiệm vụ của vị trí đó. Theo đó, tuyển dụng công chức cấp xã có các đặc điểm, đó là: + Tuyển dụng công chức cấp xã theo nhu cầu thực tiễn. Nhu cầu tuyển dụng này được phản ánh rõ trong chiến lược, chính sách cán bộ, công chức của Nhà nước và trong nhiệm vụ, kế hoạch của các cơ quan Nhà nước ở từng thời kỳ, từng giai đoạn nhất định. + Tuyển dụng công chức cấp xã có đặc điểm là hoạt động của nó mang tính công khai, dân chủ và công bằng.
+ Tuyển dụng công chức cấp xã luôn gắn liền với những tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu đặt ra cần thiết đối với từng vị trí việc làm ở cấp xã. Về hình thức, trong hệ thống hành chính nhà nước nói chung và hệ thống hành chính nhà nước nói riêng thường tiến hành tổ chức tuyển dụng dưới nhiều hình thức: (1) Tuyển dụng cạnh tranh (đây là xu hướng chính); (2) Tuyển dụng nội bộ; (3) Tuyển dụng theo chế độ hợp đồng: tuyển dụng không qua thi tuyển; từ tuyển chọn nhân sự vào một ngành, nghề thuộc một ngạch bậc cho đến việc chuyển ngạch hay bổ sung các vị trí còn trống… 1. Quy trình tuyển dụng công chức cấp xã Ở khía cạnh thuật ngữ về tuyển dụng theo ngôn ngữ phổ thông, người ta có thể xem xét quy trình tuyển dụng được thực hiện bởi 2 bước cơ bản, đó là: hoạt động tuyển và hoạt động chọn.