Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu ở Trung Quốc Ban Tổ chức Thành uỷ Thẩm Quyến (1996), Sổ tay công tác tổ chức đảng của đặc khu Thẩm Quyến [15]. Cuốn sách khẳng định, nguyên nhân làm nảy sinh nguy cơ thoái hoá, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cải cách, mở cửa, hội nhập là coi nhẹ công tác chính trị, tư tưởng, vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để phát huy vai trò to lớn của ĐNĐV trong tổ chức đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông phát triển cần phải giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ đảng viên, xây dựng hệ thống trường đảng, chỉnh đốn, đổi mới phương pháp học tập, bồi dưỡng lý luận, nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập của đảng viên. Trình Lập Vân (2006), Mấy vấn đề về phát triển đảng viên trong tầng lớp xã hội mới [200]. Tác giả cho rằng, kết nạp các phần tử ưu tú trong các tầng lớp xã hội mới vào Đảng là nhu cầu củng cố địa vị cầm quyền, giữ được tính tiên tiến của Đảng, thúc đẩy hơn nữa sự nghiệp CNXH màu sắc Trung Quốc. Phát triển đảng viên trong tầng lớp xã hội mới phải kiên trì nguyên tắc không hạ thấp tiêu chuẩn, bảo đảm chất lượng, khảo sát tổng hợp, thận trọng, bảo mật ở nhiều phương diện, đánh giá dân chủ, truy cứu trách nhiệm theo nguyên tắc: “Ai giới thiệu người ấy phải chịu trách nhiệm, ai khảo sát người ấy phải chịu trách nhiệm” [200, tr.
Chu Chí Hoà (Chủ biên, 2010), Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn [87]. Cuốn sách gồm 11 chương, trong đó các chương 3, 4 và 5 làm rõ nội dung đổi mới công tác giáo dục, quản lý, giám sát đảng viên ở nông thôn. Trong đổi mới công tác quản lý, giáo dục đảng viên, tác giả đã nhấn mạnh tính thời đại luan an 12 trong nội dung, tính hiệu quả trong hình thức, nghệ thuật trong phương pháp giáo dục và coi trọng tính học hỏi khi đổi mới lý luận trong công tác giáo dục đảng viên; tìm ra lối tư duy, con đường, biện pháp khơi thông mới trong công tác phát triển đảng viên, quản lý đảng viên, đồng thời đề cao tính sáng tạo, tư duy linh hoạt và thực chất trong giám sát đảng viên. Tác giả phân tích, làm rõ vai trò công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp phi công hữu và yêu cầu kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Việc xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên trong các đơn vị kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp hoạt động đúng chủ trương, đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là cầu nối phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người lao động tới chủ doanh nghiệp và lên tổ chức đảng cấp trên, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đội ngũ công nhân. Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2012), Công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh [59]. Cuốn sách bàn về nâng cao trình độ khoa học công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trung Quốc. Về phương diện xây dựng ĐNĐV, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thực hiện mục tiêu: “Giảm thiểu “vùng trắng, vùng trống”, mở rộng “vùng phủ khắp” [59, tr.
Do đó, trước kia hộ gia đình đảng viên làm kinh tế chỉ như những viên ngọc lác đác trong đại dương, thì bây giờ, Đảng tổ chức họ liên kết lại trở thành vùng sáng trong đại dương. Trong quản lý đảng viên, lấy doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm chỗ dựa, thực hiện quản lý theo mô hình cùng doanh nghiệp, cùng ngành nghề. Các nghiên cứu ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Bun Phết Xuly Vôngxắc (1994), Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng viên Đảng nhân dân cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay luan an 13 [63]. Luận án phân tích thực trạng trình độ tư duy lý luận của cán bộ, đảng viên Đảng nhân dân cách mạng Lào.
Theo tác giả, để nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng viên cần phải xây dựng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân về kinh tế, giáo dục, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tổng kết thực tiễn, đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Pheng Sơn Khun Thoong Khăm (2008), Chất lượng đội ngũ đảng viên ở nông thôn các tỉnh miền Trung nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay [122]. Luận án làm rõ đặc điểm, vai trò của nông thôn, các tổ chức đảng, ĐNĐV các tình miền Trung Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Phân tích làm rõ về chất lượng ĐNĐV.
Để nâng cao chất lượng ĐNĐV ở nông thôn các tỉnh miền Trung nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào phải cụ thể hoá tiêu chuẩn đảng viên, nâng cao chất lượng các tổ chức đảng, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, trình độ năng lực và trẻ hoá ĐNĐV. Lít Thi Đệt Xay Nhạ Chắc (2009), Công tác phát triển đảng viên ở nông thôn đồng bằng các tỉnh miền Trung của Lào trong giai đoạn hiện nay [100]. Tác giả luận án cho rằng, ĐNĐV ở nông thôn đồng bằng các tỉnh miền Trung của Lào hình thành từ nhiều nguồn, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị còn thấp và không đồng đều về cơ cấu, ĐNĐV chưa thật hợp lý. Do vậy, giải pháp cho sự phát triển đảng viên ở nông thôn đồng bằng các tỉnh miền Trung của Lào là tạo sự chuyển biến nhận thức về việc nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng đối với đội ngũ cán bộ cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy và phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở nông thôn các tỉnh miền Trung của Lào.
Sa - vát Chăn - tha - pri - xay (2017), Tỉnh Luông Nậm Thà với công tác phát triển đảng viên [127]. Bài viết đánh giá tình hình KT-XH và công tác xây dựng Đảng, trong đó có công tác phát triển ĐNĐV của tỉnh Luông Nậm Thà. Với sự phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, công tác phát triển đảng viên đạt được kết quả tích cực; số lượng, cơ cấu luan an 14 đảng viên tăng nhanh, nhất là đảng viên nữ. Nếu như năm 2011 là 5.429 đảng viên, có 938 đảng viên nữ, thì đến năm 2016 đã tăng 10.520 đảng viên, trong đó có 2.
Đạt được kết quả đó là nhờ sự quan tâm của các cấp ủy đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, đặc biệt là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời uốn nắn những lệch lạc giữ vững sự đoàn kết nội bộ và quần chúng nhân dân trong tỉnh. Khăm - phủi Chăn - tha - va - đi (2018), Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tỉnh Luông Pha Băng [92]. Bài viết đánh giá tình hình KT-XH, truyền thống cách mạng của tỉnh Luông Pha Băng; thống kê kết quả và hạn chế về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên từ năm 2011 đến năm 2015. Theo tác giả, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gắn với đường lối, nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, phong trào của quần chúng và công tác tổ chức; xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc bảo vệ và giữ gìn cán bộ, đảng viên và phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng.
Các công trình nghiên cứu trong nước Nhóm công trình nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ đảng viên trong cả nước Ngô Kim Ngân (1999), Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong sự nghiệp đổi mới [116]. Cuốn sách đã hệ thống quan điểm cơ bản Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản; phân tích ý nghĩa, yêu cầu của công tác xây dựng, phát triển ĐNĐV. Theo tác giả, để nâng cao chất lượng ĐNĐV phải nâng cao chất lượng khâu kết nạp đảng viên mới và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá biến chất; tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng và trí tuệ cho đảng viên; đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý đảng viên trên các mặt [116, tr. Vũ Ngọc Am (2002), Quá trình đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến luan an 15 hòa bình” [1].
Tác giả đã làm rõ vai trò công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với việc nâng cao tính tự giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; khái quát quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới; trên cơ sở đó, chỉ rõ yếu tố khách quan tác động công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong công cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Mạch Quang Thắng (2006), Đảng viên và phát triển đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [129]. Theo đánh giá của tác giả, nền kinh tế thị trường tác động đến tính quyết đoán, sự năng động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, với mục đích để đảng viên nhận thức đúng các quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, kịp thời nắm thông tin trên các lĩnh vực, có ý kiến phản biện, kiến nghị, đề xuất với cấp có thẩm quyền về những chủ trương, chính sách chưa hoàn thiện trong công tác phát triển Đảng [129, tr. Mạch Quang Thắng (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc chống thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên [130] đã nêu lên triết lý phát triển của Hồ Chí Minh trong những lời nói, bài viết về cảnh báo, nhắc nhở và phê bình với đội ngũ cán bộ, đảng viên ngay trong những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng và trong thời điểm cách mạng chuyển giai đoạn, đó là lúc “sự thoái hoá, biến chất của cán bộ đảng viên mà Hồ Chí Minh chỉ ra thể hiện trên nhiều mặt, nhưng điều thường thấy nhất là về tinh thần, trách nhiệm, về đạo đức, lối sống, đặc biệt về tư cách, đạo đức” [130, tr.