Chương 1 SỰ LÃNH ĐẠO CUA DANG BỘ THÀNH PHO HÀ NỘI VE CẢI CÁCH HANH CHÍNH NHÀ NƯỚC (2001-2005) 1. Yêu cầu khách quan cải cách hành chính nhà nước của thành phố Hà Nội 1. Tình hình kinh tế, xã hội thành phố Hà Nội Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946, và là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay. Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, sớm trở thành một trung tâm kinh tế chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu lịch sử Việt Nam.
Năm 1010, Lý Công Un, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo duc của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyên tri vì, kinh đô được chuyền về Huế va Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831 dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên Bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại.
Từ khi đất nước được giải phóng cho đến nay Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước. Hà Nội, với vai trò là thủ đô, đồng thời cũng là một trong những thành phố có nền kinh tế - xã hội phát triển và năng động nhất cả nước. Từ khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới (1986) đến trước năm 2008, quán triệt va vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, Thanh ủy Hà Nội đã đề ra chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, quyết tâm đổi mới cơ chế quản ly, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản ly của Nhà nước theo định hướng XHCN, đã dat được những thành tựu nồi bật sau: Về kinh tế: Kinh tế liên tục tăng trưởng cao, phát triển theo hướng bền vững. So với năm 1995, kinh tế của Thủ đô năm 2003 tăng 5,1 lần, bình quân tăng 9,5%/năm.
Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và từng bước hiện đại hóa; tỷ trọng công nghiệp tăng từ 27,9% năm 1985 lên 40,4% năm 2003; tỷ trọng dịch vụ giảm từ 66,5 xuống 57,2%, nông nghiệp giảm từ 5,6% xuống 2,4%; chat lượng, hiệu qua và khả năng cạnh tranh chuyên biến rõ rệt. Giai đoạn 2001 — 2003, bình quân tổng đầu tư xã hội đạt 21.735 tỷ đồng/ năm, tăng 3,3 lần so với bình quân giai đoạn 199] — 1995 (6. Ty trọng huy động vốn đầu tư xã hội của Thủ đô luôn đạt mức cao và có xu hướng tăng lên: năm 2000 là 49%, năm 2001 là 50,9%, năm 2003 là 52,8% (tỷ trọng của cả nước tương ứng là 28%, 33,8% và 35,%)[29, tr. Dau tư trong nước giữ tỷ trong chủ yếu, năm 2003 chiếm 86%, nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng chiếm 14%.
So với năm 1985, thu nhập bình quân đầu người năm 2003 đã tăng 3,1 lần. Thời điểm đó, Thủ đô Hà Nội chỉ chiếm trên 10% giá trị sản xuất công nghiệp, 11% giá trị dịch vụ, 10% tổng đầu tư xã hội, trên 9% kim nghạch xuất khẩu của cả nước và 14,5% tổng thu ngân sách quốc gia [29, tr. Về xã hội, có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó: Xây dựng và quản lý đô thị có nhiều tiến bộ, đã cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng, triển khai đầu tư xây dựng nhiều công trình mới làm cho diện mạo Thủ đô ngày càng khang trang. Các cửa ngõ ra vào thành phố được mở rộng và xây dựng nhiều tuyến đường mới, xây dựng một số khu đô thị mới đồng bộ, hiện dai, mạng lưới thông tin liên lạc được mở rộng va trang bị hiện dai.
Giáo dục và đảo tạo có chuyển biến rõ rệt. Khoa học công nghệ tăng cường quản lý chất lượng, mở rộng việc tuyển chọn các đề tài khoa học, thu hút các tô chức, cá nhân nhà khoa học tham gia. Y tê và công tác xã hội đảm bảo 10 chăm sóc tốt sức khỏe ban đầu cho nhân dân ngày một tốt hơn. Văn hóa và thể dục thé thao luôn được thành phố quan tâm và dành nhiều điều kiện dé phat triển, đã tổ chức thành công Seagame 22 và Para Game 2 (2003), tạo không khí phan khởi, dé lại cho Hà Nội một loạt công trình văn hóa, thể thao lớn và có dang cấp quốc tế dé phục vụ cho hoạt động văn hóa, thé thao của Thủ đô.
Hệ thống chính trị ở Thủ đô không ngừng lớn mạnh cả về tô chức, bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo. Đảng bộ thành phố đã thực hiện có kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thường xuyên được bồi đưỡng, nâng cao nhận thức nhằm thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ. Bộ máy chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng được kiện toàn, củng cố theo hướng nâng cao hiệu quả và phát huy hiệu lực; từng bước cải tiễn chế độ hội hợp, theo hướng thiết thực, chất lượng, tránh hình thức, ít thông tin, kém tác dụng.
Công tác đối ngoại được mở rộng, phát triển và đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào công cuộc đây mạnh CNH, HDH và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Hà Nội; thiết lập mối quan hệ hữu nghị với trên 60 thủ đô và thành phố của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ. Các hoạt động hợp tác, giao lưu về văn hóa, thé dục thé thao, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật. giữa Thủ đô Hà Nội với các thủ đô và thành phố trên thế giới cũng diễn ra thường xuyên với nội dung phong phú, đa dạng. Hợp tác giữa Hà Nội và các tỉnh, thành phố trong cả nước đã đạt được kết quả đáng khích lệ, được chính quyền và nhân dân các địa phương đồng tình, trân trọng, góp phần thực hiện chủ trương: “Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà Nội”.
An ninh — quốc phòng được giữ vững, đã xây dựng và hoàn thiện được thé trận an ninh quốc phòng vững chắc, dam bảo hòa bình; giữ vững 6n định lãi chính trị; nhân dân được sống trong bình yên. Thế trận an ninh — quốc phòng toàn dân vững chắc, đó là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển trong hòa bình, ổn định và an toàn, xứng danh là “Thành phố vì hòa bình”. Dân số Hà Nội theo thống kê cho đến năm 2007 thì Hà Nội có khoảng 3.000 người với khoảng 785. Với diện tích là 927,52 km”, mật độ dân số tại Thủ đô là cao nhất cả nước, rơi vào khoảng 3568 người/kmÏ (so với Thành phố Hồ Chi Minh — một trong những thành phố trực thuộc Trung ương đồng thời là một thành phố trẻ và năng động nhất cả nước mới chỉ có 3024 người/km”).
Sắc dân ở Hà Nội đa số người Kinh (98,73%), người Mường (0,76%) và người Tay (0,23%) [29, tr. Địa giới hành chính Thủ đô cho đến ngày 31/7/2008 bao gồm 9 quận và 5 huyện: Danh sách các đơn vị hành chính Hà Nội hành huyện thị xã Đơn vị trực thuộc Mas) h chính Ì ` 9 Quận 1 Quan Ba Dinh 14 phường 9,22 2 Quận Hoàn Kiếm 18 phường 5,29 3 Quận Tây Hồ 8 phường 24 4 Quận Long Biên 14 phường 60,38 5 Quận Cầu Giấy 8 phường 12,04 6 Quận Đống Da 21 phường 9,96 7 Quận Hai Ba Trung} 20 phường 9,6 8 Quan Hoang Mai 14 phường 41,04 9 Quận Thanh Xuân 11 phường 9,11 Cộng các quận 128 phường 180,64 12 5 Huyện 17 Huyện Đông Anh 1 thị tran và 23 xã 1823 18 | Huyện Gia Lam 2 thị trần và 20 xã 114 16 _ | Huyện Sóc Sơn 1 thị tran và 25 xã 306,74 50 _ | Huyện Thanh Tri 1 thị trân và 15 xã 68,22 19 _ | Huyện Từ Liêm 1 thị tran và 15 xã 75,62 Cộng các huyện 7 thị tran và 98 xã 746,88 Toàn thành phố — | 128 phường, 7 thi tran và 98 xã | 927,52 Nguồn: website Téng cuc Thống kê http:/wwwW.vn Thủ đô Hà Nội vốn là một vùng đất đắc địa, hội tụ những yếu tố về tự nhiên, địa linh, nhân kiệt rất quan trọng để nền kinh tế - xã hội có điều kiện phát triển và mở rộng. Bước sang thế ki XXI, Hà Nội có những bước tiến mạnh mẽ trên tất cả các mặt: kinh tế liên tục tăng trưởng cao, phát triển theo hướng bên vững với cơ cấu đa dang các ngành nghé, các lĩnh vực cũng như các thành phần kinh tế nhà nước, tập thể và sở hữu tư nhân; văn hóa — xã hội — giáo dục có nhiều chuyên biến tích cực; hệ thống chính trị không ngừng lớn mạnh; Công tác đối nội ngoại được mở rộng. Với vi thế là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế va giao dịch quốc tế, Hà Nội phan dau đảm bảo ổn định vững chắc về chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát triển kinh tế, văn hóa toàn diện, bền vững; xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, đậm đà bản sắc ngàn năm văn hiến, nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân.
Phấn đấu để Hà Nội là địa phương đi đầu, về đích sớm 1-2 năm sự nghiệp CNH, HĐH, góp phần cùng cả nước thực hiện thăng lợi mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; đóng góp ngày càng quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tô quôc. Đê đạt được mục tiêu trên, điêu đó đòi hỏi một nên HCNN 13 đủ mạnh dé quan lý có hiệu quả quá trình vận động phát triển của một Thủ đô đang vươn lên mạnh mẽ. Hay nói cách khác, dé phát triển kinh tế - xã hội, hơn bao giờ hết thành phố Hà Nội cần phải đây mạnh cải cách bộ máy quản lý HCNN, nâng cao quyền lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội để giải phóng mọi nguồn lực sản xuất xã hội Thủ đô, phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH, hội nhập quốc tế đang là xu thế diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở Thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.