Chương I, Điều 6 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2005, 2013) quy định: “1. Nguyên tắc thi đua gồm: A) Tự nguyện, tự giác, công khai; B) Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển. Nguyên tắc khen thưởng gồm: A) Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; B) Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; C) Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng; D) Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất.” Các nguyên tắc trên được thể hiện như sau: Thứ nhất, thi đua tự nguyện, tự giác, công khai Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Do đó ta có thể hiểu rằng thi đua là hành động tự nguyện, tự giác, là cả quá trình phấn đấu, học tập và lao động, cống hiến sức mình cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng. Thi đua tốt thì có nhiều thành tích để khen thưởng. Bình bầu thi đua đúng, công khai, chặt chẽ giúp cho việc khen thưởng được chính xác. Bình bầu thi đua rộng, nể nang thì dẫn đến việc khen thưởng tràn lan, khen không đúng sẽ phản tác dụng.
Để đạt được mục tiêu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức thì các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải lãnh đạo và tổ chức 15 thực hiện phong trào thi đua một cách thiết thực; triển khai nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng cho họ thấy rõ vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; qua đó nhận thức đúng trách nhiệm của công dân có ý thức tự nguyện, tự giác tham gia. Nguyên tắc tự nguyện, tự giác để thể hiện quyền dân chủ của công dân; thấy rõ trách nhiệm của cơ quan tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị. Phong trào thi đua muốn đạt được kết quả tốt, việc công khai có ý nghĩa quan trọng. Nội dung công khai gồm: công khai mục tiêu, mục đích, vai trò, tác dụng của phong trào thi đua; công khai trong kế hoạch, xây dựng tiêu chí thi đua, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua; kiểm tra, đôn đốc, bình xét, suy tôn, biểu dương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua; công khai trong trao tặng danh hiệu, tiền thưởng, tuyên truyền nhân điển hình tiên tiến và công khai tài chính.
Qua việc công khai, thể hiện tính minh bạch, dân chủ trong thi đua, góp phần tạo niềm tin trong mỗi cá nhân tham gia phong trào. Nguyên tắc công khai là cơ sở đảm bảo tính chính xác trong khen thưởng. Thứ hai, thi đua phải đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển Thi đua yêu nước là động lực thúc đẩy cá nhân, cộng đồng hoàn thành nhiệm vụ và là cơ sở cho việc khen thưởng. Bác Hồ đã chỉ ra bản chất tốt đẹp của thi đua, đó là thi đua mang tình đồng chí, đồng đội, hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; thi đua là người đi trước hiểu biết, dẫn người đi sau, làm cho mọi người cùng tiến bộ.
Người nói: “Thi đua tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết đẩy mạnh thi đua. Đoàn kết ấy là đoàn kết thật sự và rất chặt chẽ” [21]. Thứ ba, khen thưởng phải đảm bảo tính chính xác, công khai, công bằng và kịp thời 16 Xuất phát từ khái niệm và mục đích khen thưởng là sự ghi nhận, biểu dương và tôn vinh công lao thành tích nhằm giáo dục, động viên thúc đẩy phong trào thi đua, khơi dậy tư duy tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của mỗi cá nhân và tập thể. Khen thưởng phải chính xác, đúng đối tượng, đúng hình thức, đúng thành tích.
Thực hiện công khai trong bình xét, khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng; công khai trong việc trao tặng, tuyên truyền các tập thể, cá nhân được khen thưởng. Khen thưởng phải công bằng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi… Và nguyên tắc quan trọng là khen thưởng phải kịp thời, đảm bảo thời gian mới có ý nghĩa, tác dụng. Chính vì lẽ đó, khen thưởng phải chính xác, công khai, công bằng và kịp thời mới có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương trong quần chúng. Cần chú ý những tập thể và cá nhân có những thành tích cụ thể, ai cũng nhận thấy, dễ học tập, phổ biến, không nên khen chung chung; chống phô trương, hình thức và báo cáo thiếu trung thực.
Nếu khen thưởng không chính xác, công bằng và kịp thời, người có thành tích mà không được khen thưởng hoặc không được khen thưởng xứng đáng, sẽ làm mất tác dụng và ý nghĩa của công tác này đồng thời còn làm cho phong trào thi đua không đạt được mục tiêu đề ra và mất niềm tin trong quần chúng nhân dân. Khen thưởng phải chính xác, công bằng và kịp thời mới động viên thu hút được nhiều người tham gia. Thứ tư, khen thưởng phải đảm bảo tính thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng Tính chất trong khen thưởng phải thể hiện được những quy định về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác khen thưởng. Tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng phải có liên quan chặt chẽ với nhau.
Tính chất ở đây là tính chất công việc hoặc lĩnh vực công tác của từng tập thể, cá nhân. Hình thức khen thưởng phải phản ánh đúng thành tích đạt được trong từng 17 lĩnh vực công tác cụ thể. Đối tượng khen thưởng cũng phải phản ánh đúng hình thức và thành tích. Thứ năm, khen thưởng phải kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần đi đôi với thưởng về vật chất Khen đi đôi với thưởng thoả đáng cũng là một yêu cầu không thể thiếu được trong tình hình hiện nay vì “trăm đồng tiền công cũng không bằng một đồng tiền thưởng”; để động viên tinh thần cho những cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc đóng góp cho thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.
Hình thức khen cao phải được thưởng vật chất cao hơn. Tuy khuyến khích vật chất là một động lực song không nên nhấn mạnh quá đến yếu tố vật chất. Khen thưởng vẫn phải mang ý nghĩa tinh thần, động viên là chủ yếu; cần quan tâm hơn trong việc sử dụng các đòn bẩy về chế độ chính sách kèm theo như những người được khen thưởng với thành tích xuất sắc sẽ được quan tâm cho đi đào tạo, bồi dưỡng, nâng lương, đề bạt… để tạo ra sức hút, động lực của phong trào thi đua. Công tác khen thưởng phải đảm bảo chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch.
Khen thưởng bảo đảm đúng tiêu chuẩn, thực chất, tránh tràn lan. Cần đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến để khen thưởng. Chú trọng khen thưởng người có công với cách mạng, đối tượng chính sách, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tập thể nhỏ, công nhân, nông dân, người trực tiếp lao động sản xuất, kinh doanh, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ. Quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số.
Thẩm quyền quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước. Theo đó, thẩm quyền quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng cũng phải tuân thủ các quy định chung của pháp luật. 18 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Chương II, Mục 2, Điều 23 quy định: “Chính quyền địa phương ở huyện là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân huyện”. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Chương II, Mục 2, Điều 28, Khoản 2 trong đó có quy định: “Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện”.
Ủy ban nhân dân huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng. Ủy ban nhân dân huyện có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: - Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân huyện quyết định các nội dung trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền; trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường; quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triến sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật. - Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện.
- Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, 19 tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật. - Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền.