phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc chia thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Thực trạng năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hƣởng đến năm lực cạnh tranh của tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng 5: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Nguyên. luan an 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng có thể duy trì phát triển bền vững và thịnh vƣợng lâu dài của một nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng của một địa phƣơng có thể duy trì phát triển bền vững và thịnh vƣợng lâu dài cho cộng đồng ngƣời dân và doanh nghiệp trên một địa bàn nhất định. Trong bối cảnh khủng hoảng do bệnh dịch và biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hƣởng lớn tới nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia và chính quyền địa phƣơng phải đối mặt với vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực để hƣớng tới phục hồi xanh và phát triển bền vững trong dài hạn.
Diễn đàn kinh tế thế giới đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên khả năng phục hồi và chuyển đổi xanh, nâng cao chất lƣợng vốn con ngƣời, duy trì chuỗi cung ứng và hoạt động thông suốt của thị trƣờng, phục hồi hệ sinh thái, đổi mới, sáng tạo và mức độ sẵn sàng chuyển đổi mô hình tăng trƣởng, thuận lợi hóa thƣơng mại và đầu tƣ để khắc phục gián đoạn của thị trƣờng. Cốt lõi để duy trì năng lực cạnh tranh là các các quốc gia, các địa phƣơng, các tổ chức kinh tế có năng lực để khai thác lợi thế so sánh của mình để duy trì phát triển bền vững và thịnh vƣợng cho con ngƣời và trái đất trong dài hạn. Các nghiên cứu về lợi thế so sánh và cạnh tranh Năng lực cạnh tranh bắt đầu đƣợc nghiên cứu dựa trên các quan điểm về lợi thế so sánh (LTSS) xuất hiện từ thế kỷ 17. Đến cuối thế kỷ 18 một số nhà kinh tế học nhƣ Adam Smith, David Ricardo, Jonh Stuart Mill, Thomas Malthus, Karl Marx… đã phát triển lý thuyết về năng lực cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh là nền tảng của lý thuyết hiện đại về năng lực cạnh tranh Adam Smith là nhà kinh tế học cổ điển ngƣời Anh, là một trong những học giả đầu tiên nêu quan điểm về lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối.
Trong tác phẩm nổi tiếng của mình là “Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” (1776), Adam Smith cho rằng, LTSS tuyệt đối và nguồn gốc thịnh vƣợng của các dân tộc dựa trên lợi thế so sánh tuyệt đối về chi phí sản xuất của một quốc gia. Các quốc gia cần chuyên môn hóa vào các sản luan an 9 phẩm có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình và đem lại thịnh vƣợng chung cho các quốc gia thông qua thƣơng mại quốc tế; đồng thời, các chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp tham gia vào thị trƣờng cần chuyên môn hóa vào sản xuất các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối. Adam Smith khẳng định LTSS tuyệt đối là cơ sở để các doanh nghiệp và các quốc gia lựa chọn lĩnh vực sản xuất, khu vực có năng lực cạnh tranh tuyệt đối và sản phẩm có năng lực cạnh tranh tuyệt đối để tạo ra sức cạnh tranh quốc gia và thông qua thƣơng mại quốc tế để đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia tham gia vào thƣơng mại toàn cầu [82]. David Ricardo mở rộng lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith để giải thích năng lực và khả năng khai thác lợi thế so sánh tƣơng đối giữa các quốc gia khác nhau về trình độ công nghệ, không có khả năng cạnh tranh về lợi thế so sánh tuyệt đối, nhƣng vẫn thu đƣợc lợi ích khi tham gia vào thƣơng mại quốc tế.
Theo David Ricardo, LTSS tƣơng đối là lợi thế đạt đƣợc trong trao đổi thƣơng mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất, hoặc những mặt hàng có lợi thế lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Theo David Ricardo, LTSS tƣơng đối là nguồn lực cạnh tranh quan trọng để tạo ra sức cạnh tranh quốc gia khi các nƣớc tham gia vào thƣơng mại toàn cầu. Tác phẩm “Principles of Political Economy and Taxation” (1817) của David Ricardo đã chỉ ra quan điểm thƣơng mại tự do dựa trên lý luận với lợi thế so sánh (còn gọi là thuyết chi phí so sánh). Cạnh tranh là thuộc tính tất yếu của nền kinh tế thị trƣờng và thƣơng mại quốc tế là cơ sở để các quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất những mặt hàng mình có lợi thế cạnh tranh tƣơng đối với các nƣớc khác và thông qua trao đổi để đem lại lợi ích cho mọi quốc gia.
David Ricardo cho rằng, LTSS tƣơng đối là nền tảng của năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, đem lại lợi ích cho tất cả các nƣớc tham gia vào thƣơng mại quốc tế [77]. Sau Adam Smith và David Ricardo, hai nhà kinh tế Heckscher (1919), Ohlin (1933) đã phát triển lý thuyết về các yếu tố sản xuất để giải thích năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên cơ sở lợi thế so sánh về nguồn lực các yếu tố sản xuất đầu vào theo mô hình H - O. Mô hình về LTSS các yếu tố sản xuất do Heckcher đƣa ra năm 1919 và đƣợc Ohlin hoàn thiện năm 1933 là mô hình giải thích năng lực cạnh tranh của các quốc gia và giải thích phân công lao động của các nƣớc dựa trên lợi thế so sánh về luan an 10 các yếu tố sản xuất đầu vào. Theo mô hình H - O, các quốc gia có nguồn lao động dồi dào sẽ có năng lực cạnh tranh quốc gia để chuyên môn hóa và sản xuất các mặt hàng sử dụng nhiều lao động, các quốc gia có nguồn vốn dồi dào sẽ có năng lực cạnh tranh quốc gia để chuyên môn hóa vào các mặt hàng sử dụng nhiều vốn [61], [71].
Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia cổ điển đã giải thích LTSS là cơ sở của năng lực cạnh tranh đƣợc thực hiện thông qua thƣơng mại quốc tế. Những quan điểm này có thể áp dụng để nghiên cứu về LTSS ở cả cấp độ quốc gia và ở cả cấp độ địa phƣơng, doanh nghiệp (DN). Năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, địa phƣơng, doanh nghiệp và sản phẩm cũng đƣợc nghiên cứu rộng rãi ở Việt Nam. Nghiên cứu của Nguyễn Thế Vinh (2016) “Phát huy lợi thế so sánh để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc” [44], nghiên cứu của Nguyễn Xuân Điền (2016) “Những nhân tố tác động đến lợi thế so sánh của Hà Nội với các vùng địa phƣơng” [14], nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Chƣơng và Nguyễn Thanh Trọng (2017) “Lợi thế và xu hƣớng xuất khẩu của Việt Nam trong quan hệ thƣơng mại với ASEAN” [11]… Các nghiên cứu này đã đi phân tích lợi thế so sánh của các địa phƣơng khác nhau, nhƣ phân tích của Nguyễn Thế Vinh khẳng định tỉnh Vĩnh Phúc có lợi thế so sánh về vị trí địa lý và nguồn nhân lực, cơ chế chính sách thông thoáng; Nguyễn Xuân Điền khẳng định Hà Nội có lợi thế về vị trí địa lý là thủ đô của cả nƣớc, có nguồn nhân lực chất lƣợng cao, có số dân đông và có nhiều nhà đầu tƣ lớn,….; Huỳnh Ngọc Chƣơng và Nguyễn Thanh Trọng khẳng định rằng lợi thế so sánh của Việt Nam trong quan hệ thƣơng mại với ASEAN gồm: vị trí thuận lợi cả đƣờng thủy, đƣờng bộ và đƣờng hàng không; Việt Nam có lợi thế về điều kiện tự nhiên do vậy có nhiều sản phẩm đặc sản tại các địa phƣơng trong cả nƣớc, chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhận thức của ngƣời dân về chất lƣợng sản phẩm ngày càng đƣợc nâng cao, do vậy mà việc xuất khẩu sản phẩm đặc thù của địa phƣơng đang đƣợc coi là lợi thế; với các hiệp định thƣơng mại tự do trong khối ASEAN sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt dễ dàng xuất khẩu các mặt hàng sang các nƣớc trong khu vực,… các nghiên cứu trên đã đề cập tới vai trò của LTSS trong nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì phát triển bền vững và thịnh vƣợng lâu dài cho quốc gia, địa phƣơng, và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cần làm rõ nguồn lực cạnh tranh ở cấp độ địa phƣơng, để nghiên cứu về đổi mới mô hình tăng luan an 11 trƣởng, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lƣợng nguồn nhân lực, phát triển bền vững thông qua kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế các bon thấp để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các tác giả tiêu biểu nhƣ Adam Smith, David Ricardo,John Stuart Mill, Karl Marx.Các tác giả Adam Smith, David Ricardo đã khẳng định cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trƣờng, thông qua cạnh tranh, chuyên môn hóa và phân công lao động, các chủ thể kinh tế, các địa phƣơng, các quốc gia đều đƣợc hƣởng lợi thông qua trao đổi hàng hóa. Tác giả John Stuart Mill trong cuốn “Principles of political economy” (1848) cho rằng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dựa trên nền tảng khai thác lợi thế của doanh nghiệp nhƣng không đƣợc đƣa lợi ích cá nhân, quyền lợi của doanh nghiệp lên trên giá trị đạo đức kinh doanh, đạo đức xã hội [65]. Trong cuốn “Das Kapital” (1867), Karl Marx cho rằng cạnh tranh là khai thác lợi thế thuận lợi giữa các nhà tƣ bản trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, với mục đích thu về lợi nhuận siêu ngạch… [66].
Những nghiên cứu trên đã khẳng định cạnh tranh là một thuộc tính tất yếu của kinh tế thị trƣờng, đồng thời, các nghiên cứu này cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa LTSS và nguồn lực cạnh tranh, giữa LTSS và lợi thế cạnh tranh (LTCT) và NLCT và có sự chuyển hóa LTSS thành nguồn lực cạnh tranh rồi chuyển hóa nguồn lực cạnh tranh thành LTCT và NLCT ở cấp độ quốc gia. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh địa phƣơng 1.