mở đầu thời kỳ đổi mới. Đại hội nêu ra phƣơng châm thực hiện CSDT cụ thể nhƣ sau: “Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đồng bào thiểu số, cần thể hiện đầy đủ CSDT, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau”. Phƣơng chân thực hiện CSDT là: “Tăng cƣờng công tác nghiên cứu về dân tộc học và công tác điều tra xã hội học. Hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc.Trên cơ sở đó thực hiện tốt CSDT bằng cụ thể hóa, tránh sai lầm, chủ quan, áp dụng những hình thức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa ở các vùng dân tộc”.
Dƣới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI, công tác dân tộc ở miền núi đƣợc định hƣớng cụ thể qua hai văn kiện quan trọng của Bộ chính trị và Hội đồng bộ trƣởng, đó là Nghị quyết 22/NQ – TW năm 1989 của Bộ Chính trị ban hành về những chủ trƣơng, chính sách lớn phát triển kinh tế, xã hội miền núi. Tiếp đó, đến tháng 3/1990 Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 72- HĐBT về chủ trƣơng, chính sách cụ thể phát triển kinh tế, xã hội miền núi. Quy định rõ 16 z những nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hƣớng chuyển sang kinh tế hàng hóa, phù hợp với đặc điểm kinh tế từng vùng. Gắn phát triển kinh tế với củng cố an ninh quốc phòng.
Với hai văn kiện quan trọng này, đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào các dân tộc Yên Bái nói riêng đã trực tiếp đƣợc hƣởng những chế độ ƣu tiên trong hệ thống chính sách chung của Nhà nƣớc về dân tộc và thực hiện CSDT. Tiếp đó, ngày 4/3/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng ra Quyết định số 69 – CT về lập chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội vùng cao phía Bắc. Trong đó đặt nhiệm vụ, kế hoạch đến năm 2000 thành một chƣơng trình đồng bộ, có mục tiêu và đƣợc sự ƣu tiên của Nhà nƣớc, gọi tắt là “chƣơng trình tổng thể vùng cao phía Bắc”. Với chƣơng trình này, các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có Yên Bái đƣợc bộ ngành trung ƣơng quan tâm trực tiếp từ phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông, viễn thông…) đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…Các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nƣớc đã lên khảo sát thực tế hiện trạng, đóng góp ý kiến, nêu chủ trƣơng, giải pháp thiết thực để giúp các địa phƣơng tháo gỡ khó khăn trƣớc mắt và cho những ý kiến chỉ đạo kịp thời giúp các cấp chính quyền thực hiện tốt công tác dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng.
Sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc, tại Đại hội lần thứ VII (1991) của Đảng đã chỉ rõ con đƣờng phát triển của các dân tộc và hƣớng tăng cƣờng mối quan hệ giữa các dân tộc: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nƣớc ta. Sự tăng cƣờng tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhƣng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân tộc” [26, tr. Trong báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết tƣơng trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đƣờng văn minh, tiến bộ, gắn bó với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam” [26, tr. Có thể thấy, thông qua các hệ thống văn bản, văn kiện của Đảng, chủ trƣơng của Chính phủ và pháp luật của Nhà nƣớc cũng nhƣ các văn bản dƣới luật, CSDT của Đảng và Nhà nƣớc ta ngày càng đƣợc quan tâm ngay cả trong phƣơng diện hoạch định chính sách đến việc thể chế hóa và thực hiện trong đời sống xã hội.
17 z CSDT không chỉ nêu lên những nội dung xuyên suốt, bao trùm cả một thời kỳ dài (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc) mà còn đƣợc xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể, những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ, mỗi giai đoạn. Để làm đƣợc điều đó, cần phải thực hiện đầy đủ các nội dung cụ thể trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Về kinh tế: Nhiệm vụ kinh tế trong CSDT chính là các chủ trƣơng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện để các dân tộc phát huy tiềm năng và các nguồn lực, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế hàng hóa, từng bƣớc khắc phục tình trạng chênh lệch kinh tế giữa các vùng miền, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số. Nội dung kinh tế của chính sách dân tộc cũng đòi hỏi phải xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện phát triển giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc để phát triển sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Về chính trị: Nội dung bao trùm, xuyên suốt của chính sách dân tộc là thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tƣơng trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng nhƣ đa số đều có quyền làm chủ, có đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, dân chủ hóa đời sống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số. Ý thức chính trị, văn hóa chính trị (mà trƣớc hết là những thông tin tri thức về đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về quyền lợi, nghĩa vụ công dân…) đƣợc chú ý quan tâm trong CSDT. Về văn hóa: Nội dung nhiệm vụ văn hóa cũng đƣợc phản ánh rất phong phú trong CSDT của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bao hàm các nội dung bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa mới của các dân tộc thiểu số, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, chống các tệ nạn xã hội…, tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Về xã hội: Chính sách xã hội bao hàm nội dung giải quyết các vấn đề xã hội. Có rất nhiều nội dung, nhiệm vụ cụ thể thuộc chính sách xã hội đƣợc triển khai đan lồng trong nhiều chủ trƣơng chính sách: chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với các 18 z vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa; chính sách tạo việc làm, chính sách đền ơn đáp nghĩa; chính sách bảo trợ xã hội; các chính sách về kế hoạch hóa dân số… những chính sách đó đều phản ánh nội dung xã hội, trong việc thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nƣớc ta. Về quốc phòng, an ninh: CSDT đƣợc hoạch định và thực hiện cũng chính là tạo điều kiện củng cố, xây dựng an ninh, quốc phòng ngày càng vững chắc.
Bởi vậy, xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng chính là thực hiện và đáp ứng những yêu cầu về ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Quán triệt đầy đủ các yêu cầu, nội dung nhiệm vụ của CSDT nói trên đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức đúng đắn về vấn đề dân tộc và thực hiện CSDT của Đảng. Đây là trách nhiệm chung của tất cả mọi ngƣời, của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp của nƣớc ta chứ không chỉ riêng đồng bào các dân tộc thiểu số. Lĩnh vực dân tộc, CSDT có nội dung rộng lớn, đòi hỏi việc hoạch định chính sách, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc phải luôn luôn đƣợc hoàn thiện, bổ xung, chi tiết hóa, pháp luật hóa trên cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn.
Tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở Yên Bái trước năm 1996 Vài nét chung về tỉnh Yên Bái Điều kiện địa lý tự nhiên: Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc, nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc. Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phƣờng, thị trấn (159 xã và 21 phƣờng, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn đƣợc đầu tƣ theo các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nƣớc. Yên Bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lƣu với các tỉnh bạn, với các thị trƣờng lớn trong và ngoài nƣớc.
19 z Đặc điểm địa hình của Yên Bái cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc và đƣợc kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hƣớng chạy Tây Bắc – Đông Nam: phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn – Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô. Địa hình khá phức tạp nhƣng có thể chia thành 2 vùng lớn: vùng cao và vùng thấp. Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh. Vùng này dân cƣ thƣa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã hội.
Vùng thấp có độ cao dƣới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22 – 23oC; lƣợng mƣa trung bình 1.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 – 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp. Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 688.