Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về lễ hội. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Chương 3: Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LỄ HỘI 1.
Tổng quan về lễ hội 1. Khái niệm Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong một khoảng thời gian và không gian xác định, nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện các ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội. Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Lễ mang màu sắc tâm linh.
Hội là tập hợp các trò diễn có tính nghi lễ, các cuộc vui chơi, giải trí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo, hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hóa hàng ngày và một phần đời sống cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỉ niệm một sự kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Hội mang màu sắc dân gian, vừa thể hiện tính khéo léo vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng đồng [32]. Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu. Từ điển Bách Khoa Việt Nam định nghĩa “lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo” [31].
Từ điển Trực tuyến cũng định nghĩa “lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa ” [32]. Thực tế đã chứng minh một trong những quan điểm lý thuyết nhận được sự đồng thuận cao về hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là phần thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật đời thường). Có quan niệm chia tách lễ hội thành hai thành tố khác nhau và độc lập trong cấu trúc lễ hội dựa trên thực 11 tế có những sinh hoạt dân gian, văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại. Có quan niệm ngược lại, nhấn mạnh “tính nguyên hợp” của lễ hội, tức là quan hệ nghệ thuật ấy (lễ hội) người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt.Nguyễn Quang Lê cho rằng: Bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc.
Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và nhân thần), do chính họ tưởng tượng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình. Hệ thống hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian. Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng. Ngô Đức Thịnh diễn giải: Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh đề tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong một lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp.
Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định [11]. Như vậy qua quá trình nghiên cứu trên tác giả xin đưa ra khái niệm riêng theo cách hiểu về lễ hội như sau: lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính cộng đồng cao của thành phần các dân tộc, diễn ra trong những 12 chu kỳ không gian, thời gian nhất định lấy đó làm những nghi thức để tỏ rõ sự tôn kính của con người đối với thần linh, thể hiện những ước vọng, mong muốn chính đáng mà con người chưa có khả năng thực hiện được. Phân loại lễ hội Lễ hội được các nhà khoa học phân thành nhiều loại khác nhau. Có thể phân loại lễ hội theo niên đại, gần gũi với phân kỳ lịch sử dân tộc Việt Nam, hoặc phân loại lễ hội theo từng thành tố riêng biệt, hay theo cấu trúc và các thành tố khác nhau.
Tuy nhiên, dù phân loại theo tiêu chí lựa chọn nào, cũng đều có những yếu tố hợp lý và hạn chế nhất định. Trong tư cách là đối tượng quản lý, các lễ hội hiện nay đang chưa có sự thống nhất về tên gọi trong các văn bản pháp lý. Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 gọi đối tượng là lễ hội truyền thống. Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 gọi đối tượng là lễ hội tín ngưỡng.Theo cách gọi đã nêu trên, có thể hiểu lễ hội dân gian đồng nhất với khái niệm lễ hội truyền thống vì đây là những lễ hội gắn bó mật thiết nhất đối với đời sống văn hóa tinh thần của đại đa số người dân ở khắp các vùng miền Việt Nam.
Theo điều 3 Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, lễ hội gồm: Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng, thờ cúng 13 thần thánh và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử , văn hóa, đạo đức xã hội, tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng. Lễ hội văn hóa là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn hóa, thể thao, du lịch bao gồm: festival; liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch khác. Loại hình lễ hội này đang có chiều hướng phát triển nhanh ở nhiều địa phương với các chương trình nội dung phong phú như: Festival, Liên hoan văn hóa - du lịch, Tuần văn hóa - du lịch, Tuần văn hóa - du lịch - thương mại, Tuần văn hóa du lịch biển.
Mục đích tổ chức lễ hội nhằm quảng bá phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, tiếp thị sản phẩm du lịch trong nước và quốc tế đồng thời xúc tiến du lịch, mời gọi đầu tư trên cơ sở sử dụng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Lễ hội ngành nghề là hoạt động quảng bá về đặc trưng, thế mạnh của các ngành nghề; tôn vinh các tổ chức, nghệ nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển ngành nghề, địa phương được tổ chức với quy mô lớn như: Festival dừa Bến Tre, Lễ hội “Quả điều vàng Việt Nam - Bình Phước, Festival trái cây Việt Nam, Lễ hội trái cây Nam Bộ tại Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên, thành phố Hồ Chí Minh, Festival Thủy sản Việt Nam, Festival làng nghề Việt- Đà Nẵng, Lễ hội Nho và Vang (Khánh Hòa), Lễ hội bánh tráng phơi sương (Trảng Bàng, Tây Ninh), Lễ hội Diều (Đà Nẵng)… Việc tổ chức các lễ hội ngành nghề với quy mô lớn, đang là xu thế của nhiều địa phương. Lễ hội được tổ chức nhằm giới thiệu đến bạn bè quốc tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước về tiềm năng, giá trị của các sản phẩm. Các hoạt động của lễ hội như hội nghị, hội thảo về chiến lược phát triển ngành điều, xây dựng thương hiệu ngành điều Việt Nam, hội nghị khách hàng của 14 Hiệp hội điều Việt Nam, hội nghị chuẩn bị thành lập Hiệp hội điều Thế giới đã thu hút hàng trăm nhà khoa học, quản lý, doanh nghiệp sản xuất chế biến, xuất khẩu điều, khách hàng quốc tế, đặc biệt là những địa phương có di sản văn hóa thế giới hoặc có thế mạnh phát triển văn hóa.
Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài là những hoạt động giới thiệu văn hóa, kinh tế, xã hội của nước ngoài với công chúng Việt Nam, do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam. Loại hình lễ hội này có nguồn gốc do người nước ngoài đang cư trú và sinh sống hợp pháp ở Việt Nam tổ chức nhằm kỷ niệm các sự kiện về chính trị, văn hóa, phong tục của đất nước họ nhưng không trái với pháp luật và thuần phong mỹ tục của Việt Nam. Các hoạt động lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam rất đa dạng, có ảnh hưởng và thu hút người Việt Nam đặc biệt là lực lượng thanh niên như: “Ngày tình yêu” (Valentine’s Day) được tổ chức vào ngày 14-2 hàng năm. Lễ hội này đã được tổ chức ở nhiều nơi, không có phần lễ nghi và nghi thức, cụ thể, chủ yếu là các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh cho các cặp vợ chồng, các cặp tình nhân chủ yêu là giới trẻ, với các nét sinh hoạt văn hóa ảnh hưởng theo tập quán phương tây.
Lễ hội Haloween (lễ hội hóa trang) thường không được phổ biến mà chỉ được tổ chức dưới hình thức nhỏ, hẹp, phạm vi nội bộ một số công dân của cộng đồng nước ngoài. Lễ hội này tổ chức dưới hình thức dạ tiệc kết hợp với các trò vui chơi, ảo thuật.