Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lễ chùa là sinh hoạt Phật giáo điển hình và là tập tục truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam, gắn liền với các dịp lễ Tết, ngày mùng Một, ngày Rằm và các sự kiện quan trọng trong đời sống gia đình. Trải qua tiến trình lịch sử, hoạt động này đáp ứng nhu cầu tâm linh, nguyện cầu bình an, may mắn hoặc tìm kiếm sự giải tỏa áp lực trong cuộc sống. Từ cuối năm 2019, đại dịch Covid-19 xuất hiện trên quy mô toàn cầu. Tại Việt Nam, ca mắc đầu tiên được ghi nhận vào ngày 22/01/2020 (tức ngày 28 tháng Chạp năm Kỷ Hợi), mở đầu cho 4 đợt bùng phát dịch bệnh với quy mô và số lượng ca nhiễm gia tăng.

Trước đại dịch, các nghiên cứu khẳng định hoạt động lễ chùa và hành hương tôn giáo diễn ra sôi nổi, gia tăng liên tục về quy mô người tham gia. Tuy nhiên, giai đoạn 2020–2022 với các quy định về giãn cách xã hội, hạn chế tập trung đông người cùng sự suy thoái kinh tế đã tác động đến sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng. Bên cạnh tác động của kinh tế thị trường và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đại dịch Covid-19 đóng vai trò là một cuộc khủng hoảng xã hội, đặt ra yêu cầu khảo sát xem thực hành lễ chùa bị hạn chế hay chuyển đổi sang các phương thức vận động mới. Các nghiên cứu trước đây về biến đổi tôn giáo tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận dưới tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa và Internet, trong khi tác động từ đại dịch Covid-19 đối với thực hành lễ chùa mới chỉ dừng lại ở các bài báo, tin tức ngắn. Luận án được thực hiện nhằm bổ sung khoảng trống nghiên cứu này dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nhận diện thực trạng biến đổi của thực hành lễ chùa (thực hành sinh hoạt Phật giáo tiêu biểu) qua khảo sát đối tượng người đi lễ tại chùa Phúc Khánh (quận Đống Đa, Hà Nội), chùa Hà (quận Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (huyện Quốc Oai, Hà Nội) trong bối cảnh đại dịch Covid-19; đồng thời chỉ ra xu hướng vận động, biến đổi của thực hành lễ chùa hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn nội dung:

  1. Nghiên cứu tổng quan tài liệu, xác lập cơ sở lí luận và lí thuyết nghiên cứu làm tiền đề triển khai nội dung luận án.
  2. Phản ánh thực trạng biến đổi lễ chùa của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy trong bối cảnh đại dịch Covid-19 ở các khía cạnh: không gian và thời gian đi lễ, tần suất đi lễ, hình thức tham gia, đồ lễ, cách thức thực hiện công đức và trình tự hành lễ; đồng thời khẳng định vai trò của hoạt động lễ chùa trong đời sống tinh thần của người dân.
  3. Chỉ ra nguyên nhân của sự biến đổi trong thực hành lễ chùa tại ba ngôi chùa khảo sát trong bối cảnh đại dịch Covid-19.
  4. Bàn luận và đưa ra nhận định, đánh giá về xu hướng biến đổi của thực hành lễ chùa tại ba điểm nghiên cứu nói riêng và của người dân hiện nay nói chung.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chính: Thực hành lễ chùa tại Hà Nội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn ra như thế nào? Ba câu hỏi nghiên cứu phụ:

  • Câu hỏi phụ 1: So với hoạt động lễ chùa trước đại dịch, thực hành lễ chùa hiện nay (2020–2022) của người dân tại chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội), chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) có diện mạo như thế nào?
  • Câu hỏi phụ 2: Những nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi của thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19?
  • Câu hỏi phụ 3: Thực hành lễ chùa có xu hướng biến đổi như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Hoạt động lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 có diện mạo mới, thay đổi từ hình thức này sang hình thức khác mà không biến mất; thực hành lễ chùa tiếp tục giữ vai trò trong đời sống văn hóa tinh thần, góp phần nâng đỡ tâm lý người dân trong đời sống hiện đại.
  • Giả thuyết 2: Biến đổi tôn giáo tín ngưỡng là tất yếu dưới sự chi phối của hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; dưới sự tác động từ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thời kỳ dịch bệnh cùng tiến trình chuyển đổi số, thực hành lễ chùa biến đổi trên các phương diện: không gian, thời gian, tần suất, lễ vật, công đức và trình tự dâng hương.
  • Giả thuyết 3: Dưới tác động của bối cảnh, một số thành tố truyền thống bị ảnh hưởng hoặc suy giảm, đồng thời các thành tố mới được tạo điều kiện hình thành, tạo nên diện mạo và xu hướng khác biệt so với giai đoạn trước đại dịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biến đổi thực hành lễ chùa – thực hành sinh hoạt Phật giáo của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (tiếp cận qua các thành tố: không gian, thời gian, tần suất, hình thức tham gia, hệ thống đồ lễ, hoạt động công đức/cúng dường và trình tự hành lễ).
  • Khách thể khảo sát: Những người đi lễ chùa tại ba ngôi chùa nêu trên.
  • Phạm vi không gian: Chùa Phúc Khánh (phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội), chùa Hà (phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) và chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát sinh hoạt lễ chùa trong tiến trình lịch sử qua các nguồn cứ liệu văn bản; trọng tâm khảo sát thực nghiệm tập trung vào giai đoạn bùng phát dịch bệnh Covid-19 (2020–2022), đợt thu thập dữ liệu bảng hỏi diễn ra vào tháng 2 và tháng 3 năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế về biến đổi tôn giáo

Văn bản luận án phân loại các nghiên cứu quốc tế thành hai nhóm chủ đạo:

  • Hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo do tác động của công nghệ thông tin và Internet: Heide Campbell trong tác phẩm Religion and the Internet (2006) chỉ ra các hình thái tôn giáo trực tuyến xuất hiện từ những năm 1995–1996 thông qua diễn đàn, phòng trò chuyện, thiết lập không gian thờ phụng ảo và cộng đồng tôn giáo trực tuyến. Tiếp đó, các bài viết của Heide Campbell năm 2013 bàn về mối quan hệ trực tuyến – ngoại tuyến (online - offline), khẳng định thực hành trực tuyến không tách rời bối cảnh đời sống thực tế mà phản ánh niềm tin và hành vi ngoại tuyến. Tim Hutchings trong công trình Creating Church Online: Ritual, Community and New Media (2017) nghiên cứu các nhà thờ trực tuyến của Cơ đốc giáo từ thập niên 1990, kết luận người tham gia không từ bỏ nhà thờ địa phương mà duy trì song song cả hai hình thức kết nối.
  • Hướng nghiên cứu tôn giáo ứng phó với đại dịch Covid-19: Kai Shmushko (2020) với bài viết On Face Masks as Buddhist Merit: Buddhist Responses to Covid-19. A Case study of Tibetan Buddhism in Shanghai mô tả việc đình chỉ các cuộc hành hương, hủy bỏ tụng kinh tập trung của nhóm Phật tử tại gia ở Thượng Hải, chuyển sang tụng niệm cá nhân tại nhà và sản xuất khẩu trang y tế phục vụ kinh tế lễ nghi. Cheonghwan Park và Kyungrae Kim (2021) trong bài viết Covid-19 and Korean Buddhism: Assessing the Impact of South Korea’s Coronavirus Epidemic on the Future of Its Buddhist Community ghi nhận thực trạng suy giảm tài chính của Phật giáo Hàn Quốc, đề xuất phát triển các lớp thiền ảo, chương trình học tập trực tuyến cho cộng đồng trong thời gian cách ly xã hội.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nhóm nghiên cứu về biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng: Các luận án tiến sĩ Văn hóa học của Lê Thị Thu Hiền (2017) về cư dân ven biển Đà Nẵng, Nguyễn Thị Trúc Quỳnh (2019) tại xã đảo Nghi Sơn, Nguyễn Thị Thanh Loan (2019) về hành hương chùa Hương; các công trình của Nguyễn Thị Thanh Bình (2006), Phan Đăng Nhật và Oscar Salemink (2003), Nguyễn Thị Hiền (2015), Phạm Quỳnh Phương (2014), Đỗ Quang Hưng (2018). Chu Văn Tuấn (2015) hệ thống hóa ba chiều cạnh biến đổi: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo. Nguyễn Ngọc Mai (chủ biên, 2021) khảo sát biến đổi tôn giáo dân gian; Lê Hồng Lý và Nguyễn Thị Phương Châm phân tích tác động của kinh tế thị trường đến lễ vật và không gian; Nguyễn Phú Lợi (2019) đề cập đến hình thái "sống đạo online" trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0.
  • Nhóm nghiên cứu về hoạt động lễ chùa:
    • Tiếp cận tôn giáo học và triết học: Nguyễn Hoài Sanh (2013), Lê Văn Lợi phân tích ảnh hưởng văn hóa tôn giáo; Trương Bội Phong (2012), Trương Thìn (2007), Tuệ Nhã và Diệu Nguyệt (Thích Thanh Tứ hiệu đính) giới thiệu quy thức dâng hương, nghi lễ Phật giáo chính thống.
    • Tiếp cận xã hội học: Hoàng Thu Hương (2012) với cuốn sách Chân dung xã hội của người đi lễ chùa khảo sát cơ cấu nhân khẩu học người đi lễ tại chùa Quán Sứ và chùa Hà; Trần Thị Thúy Hằng (2015) khảo sát tại chùa Từ Đàm (Huế); Hoàng Thị Phương (2016) khảo sát sinh viên Đại học Hồng Đức.
    • Tiếp cận văn hóa học: Các tác giả Nhóm Quảng Văn (2009), Nguyễn Thu Hường (1997), Thiện Ý (2013), Thiên Đức Mạnh Hùng (2017) ghi nhận phong tục đi lễ đầu xuân; Thích Thanh Từ (2000), Vũ Đình Anh (2010), Thích Nhật Từ, Lâm Vũ, Thích Cung Minh, Hồng Yến (2017), Bích Ngọc, Phạm Thị Thương (2017) phê phán hiện tượng lệch chuẩn, thương mại hóa, đốt vàng mã, trang phục chưa phù hợp; Trương Thìn, Hạnh Nguyên, Lê Đức Hạnh, Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Hiền (2013), Minh Chi, Đào Thị Vinh, Phạm Xuân Tài khẳng định giá trị phong tục; Dương Thị Thu Hà, Hoàng Văn Chung (chủ biên) làm rõ chức năng hỗ trợ xã hội, liên kết cộng đồng và giáo dục đạo đức của Phật giáo.
  • Nhóm nghiên cứu về biến đổi lễ chùa và bối cảnh đại dịch: Hoàng Thu Hương ghi nhận tiền mặt trở thành đồ lễ mới; Nguyễn Thị Minh Ngọc và Nguyễn Mạnh Cường (2013) bàn về hiện tượng dùng tiền công đức cải tạo chùa cổ; Mai Thị Hạnh (2014) khảo sát mô hình chùa online qua cổng tuvien.com. Về đại dịch Covid-19, các bài viết của Mai Lan (2021), Trần Hữu Tuấn (2020), Lê Thị Liên (2021), Đức Văn (2019 về mạng xã hội Butta.vn), Việt Văn (2021), Mai Hà phỏng vấn Chu Văn Tuấn (2021) ghi nhận các hoạt động từ thiện và hình thức lễ bái trực tuyến thích ứng với dịch bệnh.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình đi trước chủ yếu đặt sự biến đổi của sinh hoạt lễ chùa trong mối tương quan với cơ chế thị trường hoặc sự phổ biến ban đầu của Internet. Chưa có công trình khoa học chuyên ngành Văn hóa học nào tiến hành khảo sát thực địa toàn diện về sự thay đổi của thực hành lễ chùa (không gian, thời gian, tần suất, đồ lễ, công đức, trình tự hành lễ) dưới tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng xã hội mang tên Covid-19 tại địa bàn thành phố Hà Nội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các khái niệm công cụ

  • Lễ: Khái niệm được Đào Duy Anh giải nghĩa là cách bày tỏ kính ý; Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) xác định là việc tham dự nghi thức tôn giáo; Từ điển Phật học định nghĩa lễ gồm dâng phẩm vật, hương hoa, niệm Phật, bái lạy nhằm kết nối với thế giới siêu linh.
  • Chùa: Là công trình kiến trúc phục vụ thờ Phật và tu học của tăng ni (Thích Minh Châu), cấu thành từ từ nguyên "tự" (đất cúng dường của Đức Ông Cấp Cô Độc). Tại Việt Nam, chùa dung hợp thờ Phật với tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Thánh (như Từ Đạo Hạnh tại chùa Thầy, chùa Láng) và Tứ Pháp (chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Nành, chùa Sét).
  • Lễ chùa và thực hành lễ chùa: Chuỗi hành vi tôn giáo mang tính thờ phụng do cá nhân hoặc cộng đồng thực hiện tại cơ sở chùa chiền, bao gồm dâng lễ vật, khấn vái, cúng dường nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tinh thần.
  • Biến đổi thực hành lễ chùa: Sự thay đổi của các thành tố cấu thành sinh hoạt lễ chùa (không gian, thời gian, hình thức, tần suất, lễ vật, công đức, quy trình hành lễ) dưới tác động của các nhân tố chủ quan từ người đi lễ và nhân tố khách quan của bối cảnh xã hội.
  • Đại dịch Covid-19: Bệnh truyền nhiễm cấp tính nhóm A do virus SARS-CoV-2 gây ra, xuất hiện từ tháng 12/2019 tại Vũ Hán (Trung Quốc), được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận là đại dịch toàn cầu ngày 11/3/2020. Luận án nhìn nhận đại dịch là một dạng khủng hoảng xã hội tác động toàn diện đến cấu trúc văn hóa.

Khung lý thuyết phân tích

  • Lý thuyết chức năng: Luận án tiếp thu luận điểm của Bronislaw Malinowski (nghiên cứu văn hóa tại thời điểm hiện tại như một cơ chế toàn vẹn đáp ứng nhu cầu con người), Emile Durkheim và A.R. Radcliffe-Brown (văn hóa như một tổng thể duy trì trật tự và gắn kết xã hội). Lý thuyết chức năng được vận dụng để làm sáng tỏ ba khía cạnh của lễ chùa trong bối cảnh đại dịch: (1) Đáp ứng nhu cầu tìm kiếm sự che chở, an toàn trước những rủi ro bất ổn; (2) Tăng cường gắn kết tổ chức, cộng đồng; (3) Lan tỏa các giá trị đạo đức tích cực, ổn định trật tự xã hội.
  • Lý thuyết biến đổi văn hóa: Tiếp thu thuyết tương đối văn hóa của Melville J. Herskovits về tính bền vững và tính khả biến của văn hóa, cùng luận điểm của Nguyễn Duy Bắc về sự biến đổi phương thức thực hành văn hóa dưới tác động kinh tế, chính trị, xã hội. Luận án xác định ba nhóm nhân tố chi phối sự biến đổi: (1) Chủ trương, chính sách quản lý phòng dịch của Nhà nước và Thông bạch của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; (2) Nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh và khủng hoảng kinh tế - xã hội; (3) Tiến trình ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án áp dụng hướng tiếp cận liên ngành (Văn hóa học tôn giáo kết hợp Tôn giáo học, Xã hội học, Tâm lý học) cùng các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Khảo sát thực địa tại ba cơ sở: chùa Phúc Khánh (Đống Đa), chùa Hà (Cầu Giấy) và chùa Thầy (Quốc Oai).
  • Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu: Khai thác tài liệu thứ cấp từ sách chuyên khảo, tạp chí khoa học, báo cáo dịch tễ của Bộ Y tế (moh.gov.vn, covid19.gov.vn), văn bản của Ban Tôn giáo Chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (phatgiao.org.vn) và Thành hội Phật giáo Hà Nội.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp tham gia các công đoạn chuẩn bị đồ lễ, dâng hương, cúng dường tại các ban thờ ở ba chùa; ghi nhận diễn biến tâm lý từ e dè (giai đoạn 1–3) sang an tâm khi thực hiện 5K và phủ sóng vaccine (giai đoạn 4).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu với người đi lễ chùa và 11 cuộc phỏng vấn sâu với nhóm quản lý di tích, người kinh doanh dịch vụ và vãi chùa.
  • Phương pháp điều tra bảng hỏi: Thu thập 507 phiếu khảo sát hợp lệ, xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows. Khảo sát thực hiện vào tháng 2 và tháng 3 năm 2022 (khung giờ 8h30–16h30) qua hai hình thức: phiếu in giấy A4 và biểu mẫu điện tử Google Form (gửi qua ứng dụng Zalo). Chọn mẫu thuận tiện, ngẫu nhiên.
  • Phương pháp dân tộc học trực tuyến: Quan sát các diễn đàn, trang web, nhóm mạng xã hội (Facebook, Butta.vn) về sinh hoạt lễ chùa trực tuyến.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh thực trạng thực hành lễ chùa giai đoạn 2020–2022 với dữ liệu thực hành khoảng 10 năm trước đại dịch.
Điểm khảo sát Vị trí địa lý Số phiếu bảng hỏi (SPSS) Cơ cấu giới tính (Bảng hỏi) Số cuộc phỏng vấn sâu người đi lễ Tỷ lệ từ chối tiếp cận khảo sát
Chùa Hà Nội thành (Cầu Giấy) 187 phiếu 102 nữ, 85 nam 11 cuộc (07 nữ, 04 nam) 30% – 40%
Chùa Phúc Khánh Nội thành (Đống Đa) 160 phiếu 107 nữ, 53 nam 08 cuộc (04 nữ, 02 nam)* 30% – 40%
Chùa Thầy Ngoại thành (Quốc Oai) 160 phiếu 112 nữ, 48 nam 08 cuộc (06 nữ, 02 nam) 10% – 20%
Tổng số Hà Nội 507 phiếu 321 nữ, 186 nam 25 cuộc phỏng vấn —

(Ghi chú: Số liệu phỏng vấn sâu tại chùa Phúc Khánh trích xuất nguyên văn theo công bố trong văn bản luận án).

Ngoài ra, 11 cuộc phỏng vấn sâu bổ trợ được thực hiện với 03 đại diện ban quản lý di tích và 08 người bán hàng dịch vụ/vãi chùa tại các điểm nghiên cứu.


Nội dung chính theo từng chương

Bố cục nội dung chính của luận án được triển khai qua 4 chương (từ trang 14 đến trang 144):

Cấu trúc thành phần Tiêu đề chương / phần mục Dung lượng
Phần Mở đầu Đặt vấn đề, mục tiêu, đối tượng, phương pháp, ý nghĩa luận án 13 trang
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và địa bàn nghiên cứu 35 trang
Chương 2 Truyền thống lễ chùa trong văn hóa Việt Nam 33 trang
Chương 3 Thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (Khảo sát tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy) 31 trang
Chương 4 Thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số vấn đề bàn luận 31 trang
Phần Kết luận Tổng kết luận điểm và phát hiện nghiên cứu 04 trang
Tài liệu tham khảo Danh mục tài liệu tiếng Việt và ngoại văn 16 trang
Phụ lục Hệ thống bảng hỏi, biên bản phỏng vấn sâu, hình ảnh 48 trang

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 có độ dài 35 trang, tập trung tổng kết các tài liệu nghiên cứu liên quan, xác lập các khái niệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết và giới thiệu địa bàn khảo sát.

  • Về địa bàn: Luận án phân tích tính chất đặc thù của ba ngôi chùa tại Hà Nội:
    • Chùa Hà (Thánh Đức Tự, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy): Chùa có mặt bằng chữ Đinh, gắn liền với di tích cách mạng (nơi họp Thành ủy ngày 15/8/1945 chuẩn bị Tổng khởi nghĩa), nổi tiếng về hoạt động cầu duyên, thu hút nhóm người đi lễ trẻ tuổi và sinh viên.
    • Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai): Chùa khởi dựng thời Lý, gắn với Thiền sư Từ Đạo Hạnh; kiến trúc chữ Tam độc đáo không có tam quan truyền thống, gồm ba tòa Hạ, Trung, Thượng theo thế rồng tựa núi Sài Sơn; lưu giữ bộ tượng Di Đà Tam Tôn bằng gỗ mít thế kỷ XII (bảo vật quốc gia); đại diện cho không gian văn hóa ngoại thành.
    • Chùa Phúc Khánh (phường Thịnh Quang, quận Đống Đa): Ngôi chùa nội thành tọa lạc tại khu dân cư đông đúc, vốn là chùa làng Sở, nổi tiếng với các khóa lễ cầu an, dâng sao giải hạn đầu năm và đáp ứng các dịch vụ tâm linh của cư dân đô thị.
  • Hệ thống hóa khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết chức năng (giải thích tính ổn định, nhu cầu tâm lý) và lý thuyết biến đổi văn hóa (giải thích tính biến đổi dưới tác động của chính sách, công nghệ và dịch bệnh).

Chương 2: Truyền thống lễ chùa trong văn hóa Việt Nam

Chương 2 có độ dài 33 trang, trình bày bối cảnh lịch sử và diện mạo truyền thống của thực hành lễ chùa trước khi xảy ra đại dịch Covid-19.

  • Luận án hệ thống hóa sự hình thành của chùa chiền từ trung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh) với tổ đình chùa Dâu từ thế kỷ II sau Công nguyên. Vị trí chùa truyền thống được lựa chọn theo nguyên tắc phong thủy: minh đường phía trước thoáng rộng, tả Thanh long (đồi núi, cây cao bên trái), hữu Bạch hổ (gò thấp, đồng ruộng bên phải) và hậu án/hậu chẩm (chân đê, sườn núi cao ở phía sau).
  • Về mặt bằng kiến trúc, luận án phân loại theo nghiên cứu của Hà Văn Tấn gồm: chùa chữ Đinh (chùa Tức Mạc, chùa Hà), chùa chữ Tam (chùa Tây Phương, chùa Kim Liên, chùa Thầy), chùa chữ Công và phổ biến nhất là chùa kiểu "Nội công ngoại quốc" (chùa Keo Thái Bình, chùa Keo Nam Định, chùa Thứa).
  • Không gian thờ tự truyền thống tích hợp mô hình "tiền Phật hậu Thánh" hoặc "tiền Phật hậu Mẫu", phản ánh tính dung hợp tín ngưỡng của người Việt. Văn bản phân tích quy thức truyền thống về đồ lễ chay tịnh, trình tự dâng hương từ ban Đức Ông sang ban Tam Bảo, ban Mẫu và nhà Tổ, cùng các tập tục lễ chùa định kỳ vào sóc vọng, lễ hội đầu xuân.

Chương 3: Thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (Khảo sát tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy)

Chương 3 có độ dài 31 trang, công bố các dữ liệu thực nghiệm thu thập từ 507 phiếu khảo sát bảng hỏi và 36 cuộc phỏng vấn sâu tại ba điểm chùa.

  • Thực trạng biến đổi không gian và thời gian: Giai đoạn giãn cách xã hội buộc các chùa đóng cửa, hạn chế tập trung, dẫn đến việc thiết lập không gian lễ bái tại gia hoặc thông qua nền tảng mạng Internet. Thời gian đi lễ của người dân chuyển dịch từ các khung giờ cao điểm tập trung sang khung giờ vắng, rải rác trong ngày hoặc thực hiện vào ngày thường thay vì dồn vào mùng Một, ngày Rằm.
  • Tần suất và hình thức tham gia: Sự suy giảm tần suất đến chùa trực tiếp trong các đợt bùng phát dịch thứ 2 và thứ 3. Người dân chuyển đổi hình thức tham gia: kết hợp đi lễ trực tiếp khi dịch lắng xuống và tham gia các khóa lễ trực tuyến (cầu an, giải hạn online) phát qua mạng xã hội của chùa Phúc Khánh hoặc Giáo hội Phật giáo.
  • Biến đổi đồ lễ và công đức: Việc chuẩn bị đồ lễ chuyển biến theo hướng tinh giản, đóng gói sẵn, giảm bớt lễ mặn và hạn chế đốt vàng mã theo quy định an toàn dịch tễ. Hoạt động công đức ghi nhận sự xuất hiện của hình thức chuyển khoản ngân hàng, quét mã QR công đức thay cho việc đặt tiền mặt giọt dầu trực tiếp lên các ban thờ.
  • Quy trình và tâm lý hành lễ: Người đi lễ tuân thủ nguyên tắc 5K, đeo khẩu trang, rút ngắn thời gian khấn vái tại các ban thờ; tâm lý hành lễ dịch chuyển từ lo lắng, e dè sang trạng thái an tâm hơn khi hoàn thành việc tiêm phòng 2 đến 3 mũi vaccine ở đợt dịch thứ 4.

Chương 4: Thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số vấn đề bàn luận

Chương 4 có độ dài 31 trang, tập trung luận giải nguyên nhân và đánh giá các xu hướng biến đổi của sinh hoạt lễ chùa.

  • Phân tích ba nhóm nhân tố nguyên nhân:
    1. Chủ trương, chính sách phòng chống dịch của Nhà nước (các Chỉ thị về giãn cách xã hội) và văn bản chỉ đạo của Ban Tôn giáo Chính phủ, Thông bạch hướng dẫn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam yêu cầu tạm dừng sinh hoạt tôn giáo tập trung.
    2. Bối cảnh đe dọa dịch bệnh từ các biến thể Delta, Omicron tác động trực tiếp đến tâm lý bảo toàn sức khỏe của người dân, buộc họ phải điều chỉnh hành vi tín ngưỡng.
    3. Tiến trình chuyển đổi số và sự phổ biến của hạ tầng Internet, mạng xã hội (Facebook, YouTube, ứng dụng Zalo, cổng thông tin Butta.vn) tạo nền tảng kỹ thuật cho sự xuất hiện của các hình thức sinh hoạt Phật giáo trực tuyến.
  • Đánh giá xu hướng biến đổi: Thực hành lễ chùa vận động theo hướng kết hợp song song giữa trực tiếp và trực tuyến (hybrid); xu hướng đơn giản hóa nghi thức rườm rà, tinh gọn lễ vật; xu hướng cá nhân hóa trải nghiệm tâm linh thay cho hình thức sinh hoạt hội hè cộng đồng quy mô lớn. Luận án khẳng định lễ chùa biến đổi hình thức thể hiện nhưng chức năng nâng đỡ tinh thần, tạo điểm tựa tâm lý xã hội không bị mất đi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết chức năng để phân tích một thực hành tôn giáo cụ thể trong bối cảnh khủng hoảng xã hội (đại dịch bệnh truyền nhiễm), làm rõ cơ chế thích ứng của văn hóa truyền thống trước các biến cố đột xuất.
  • Bổ sung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa sinh hoạt tôn giáo trực tiếp và trực tuyến tại Việt Nam, chứng minh rằng thực hành trực tuyến không triệt tiêu thực hành truyền thống mà đóng vai trò hỗ trợ, bổ khuyết trong điều kiện gián đoạn xã hội.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm gồm 507 phiếu điều tra xã hội học và 36 cuộc phỏng vấn sâu phản ánh thực trạng lễ chùa tại Hà Nội trong giai đoạn bùng phát dịch Covid-19 (2020–2022).
  • Khắc họa bức tranh biến đổi đa diện về không gian, thời gian, tần suất, đồ lễ, công đức và quy trình hành lễ tại ba ngôi chùa tiêu biểu đại diện cho khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội.
  • Đưa ra các chỉ báo về xu hướng vận động của sinh hoạt Phật giáo trong giai đoạn bình thường mới và hậu Covid-19, làm căn cứ thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa, bảo tồn di tích và định hướng sinh hoạt tín ngưỡng lành mạnh.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cần chủ động xây dựng kịch bản quản lý sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng trong các tình huống khẩn cấp hoặc khủng hoảng y tế công cộng; hoàn thiện quy định về quản lý tiền công đức minh bạch qua tài khoản ngân hàng và các nền tảng số.
  • Đối với Giáo hội Phật giáo và ban quản lý di tích: Tiếp tục duy trì và chuẩn hóa các kênh truyền thông Phật giáo chính thống, hướng dẫn phật tử thực hành nghi lễ trực tuyến đúng chính pháp; tuyên truyền bài trừ mê tín dị đoan, hạn chế đốt vàng mã và rải tiền lẻ tại nơi thờ tự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian: Luận án chỉ khảo sát trường hợp tại ba ngôi chùa thuộc Hà Nội (chùa Phúc Khánh, chùa Hà, chùa Thầy), chưa bao quát hết 426 ngôi chùa của thủ đô cũng như hệ thống chùa chiền tại các vùng miền khác trên cả nước.
  • Hạn chế trong thu thập dữ liệu: Do bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, tỷ lệ người từ chối tham gia phỏng vấn tại thực địa tương đối cao (30% – 40% tại chùa Hà và chùa Phúc Khánh; 10% – 20% tại chùa Thầy) do tâm lý e ngại tiếp xúc gần và lo ngại lây nhiễm dịch bệnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh thực hành lễ chùa giai đoạn hậu Covid-19 khi xã hội vận hành ổn định lâu dài; nghiên cứu sâu hơn về tính hợp thức tôn giáo của các nghi lễ trực tuyến trong giáo luật Phật giáo Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tài liệu tham khảo chuyên ngành Văn hóa học, Tôn giáo học, Xã hội học văn hóa về phương pháp nghiên cứu liên ngành, quy trình thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật xử lý dữ liệu SPSS trong nghiên cứu tôn giáo thực nghiệm.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý tôn giáo: Cung cấp cứ liệu thực tế phục vụ công tác xây dựng chính sách quản lý sinh hoạt tôn giáo trong bối cảnh ứng dụng công nghệ số và ứng phó với khủng hoảng y tế xã hội.
  • Đối với ban quản lý di tích và các cơ sở Phật giáo: Gợi ý các mô hình tổ chức hành lễ văn minh, quản lý công đức qua chuyển khoản, điều tiết dòng người tham quan chiêm bái đảm bảo trật tự và vệ sinh môi trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả lựa chọn ba ngôi chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy làm trường hợp nghiên cứu?

Văn bản nêu rõ ba lý do: Thứ nhất, đây đều là những ngôi chùa nổi tiếng, thu hút đông đảo người dân nhưng có đặc điểm sinh hoạt tâm linh riêng biệt (chùa Phúc Khánh nổi tiếng về cầu an, dâng sao giải hạn; chùa Hà nổi tiếng về cầu duyên; chùa Thầy là danh thắng hang - núi - hồ kết hợp di tích lịch sử thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh). Thứ hai, ba chùa đảm bảo tính đại diện cho cả nội thành (chùa Phúc Khánh ở Đống Đa, chùa Hà ở Cầu Giấy) và ngoại thành Hà Nội (chùa Thầy ở Quốc Oai). Thứ ba, các địa điểm này đã có sẵn nguồn dữ liệu nghiên cứu trước năm 2019 của các tác giả đi trước (Hoàng Thu Hương, Nguyễn Tri Nguyên...), tạo cơ sở để đối chiếu, so sánh sự biến đổi trước và trong đại dịch.

2. Mẫu khảo sát định lượng của luận án được phân bổ và xử lý như thế nào?

Tổng số mẫu khảo sát định lượng là 507 phiếu hợp lệ, được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows. Số phiếu phân bổ tại ba cơ sở gồm: chùa Hà 187 phiếu (102 nữ, 85 nam); chùa Thầy 160 phiếu (112 nữ, 48 nam); chùa Phúc Khánh 160 phiếu (107 nữ, 53 nam). Khảo sát tiến hành vào tháng 2 và tháng 3 năm 2022 bằng hai hình thức: phiếu in giấy A4 và biểu mẫu điện tử Google Form qua ứng dụng Zalo, tiếp cận người đi lễ từ 8h30 đến 16h30 theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, ngẫu nhiên.

3. Tỷ lệ từ chối phỏng vấn tại các điểm chùa trong bối cảnh dịch bệnh được ghi nhận ra sao?

Văn bản ghi nhận tỷ lệ từ chối phỏng vấn tại chùa Phúc Khánh và chùa Hà dao động từ 30% đến 40% tổng số người được tiếp cận. Tại chùa Thầy, tỷ lệ từ chối thấp hơn, khoảng 10% đến 20%. Nguyên nhân do dịch bệnh kéo dài, người đi lễ mang tâm lý e ngại tiếp xúc cơ học, hạn chế giao tiếp với điều tra viên để đảm bảo an toàn phòng dịch.

4. Luận án vận dụng lý thuyết chức năng để làm sáng tỏ những khía cạnh nào của thực hành lễ chùa?

Dựa trên quan điểm của Malinowski, Radcliffe-Brown và Durkheim, luận án vận dụng lý thuyết chức năng để làm sáng tỏ ba khía cạnh của lễ chùa trong bối cảnh dịch bệnh: (1) Đáp ứng nhu cầu được che chở và tìm kiếm cảm giác an toàn trước các rủi ro, bất trắc của cuộc sống; (2) Tăng cường sự gắn kết tổ chức, cộng đồng; (3) Duy trì trật tự xã hội và lan tỏa các giá trị đạo đức tích cực, hướng thiện.

5. Những yếu tố nào chi phối sự biến đổi của thực hành lễ chùa trong đại dịch theo lý thuyết biến đổi văn hóa?

Theo khung phân tích tiếp thu từ Herskovits và Nguyễn Duy Bắc, luận án xác định ba nhóm nhân tố tác động: Thứ nhất là chủ trương, đường lối, chính sách phòng dịch của Đảng, Nhà nước và quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; thứ hai là các khó khăn, thách thức và nguy cơ lây nhiễm từ các đợt bùng phát dịch Covid-19; thứ ba là sự tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông và xu hướng chuyển đổi số trong đời sống tôn giáo.


Kết luận

Luận án tiến sĩ ngành Văn hóa học của nghiên cứu sinh đã làm rõ thực trạng và xu hướng biến đổi của thực hành lễ chùa tại Hà Nội trong giai đoạn đại dịch Covid-19 (2020–2022) thông qua nghiên cứu trường hợp tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy. Bằng cách kết hợp lý thuyết chức năng và lý thuyết biến đổi văn hóa cùng các phương pháp nghiên cứu liên ngành định tính và định lượng (507 phiếu khảo sát, 36 cuộc phỏng vấn sâu), công trình chỉ ra rằng thực hành lễ chùa đã có sự điều chỉnh linh hoạt về không gian, thời gian, hình thức tham gia, đồ lễ và cách thức công đức nhằm thích ứng với hoàn cảnh dịch bệnh. Kết quả nghiên cứu khẳng định sinh hoạt lễ chùa không bị triệt tiêu mà chuyển dịch sang các phương thức vận động mới kết hợp trực tiếp và trực tuyến, tiếp tục giữ vai trò nâng đỡ đời sống tâm lý và tinh thần của người dân trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động.