Tổng quan luận án
Đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tôn giáo học, tập trung phân tích vai trò của giới tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer (PGNTK) trong cấu trúc đời sống xã hội của cộng đồng người Khmer tại khu vực Tây Nam Bộ trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, vùng Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh, thành phố với diện tích tự nhiên gần 40.000 km², đường biên giới giáp Campuchia trên 340 km và dân số khoảng 17,7 đến gần 18 triệu người. Trong đó, có khoảng 1,2 đến 1,3 triệu đồng bào Khmer sinh sống tập trung chủ yếu tại thành phố Cần Thơ và các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Vĩnh Long. Đối với người Khmer, Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính thống trong đời sống tinh thần; ngôi chùa và tu sĩ giữ vai trò cốt lõi trong bộ máy tự quản truyền thống tại các ấp, phum, sóc cùng với Ban Quản trị chùa. Tu sĩ là người "thay mặt Tam bảo" chăm lo phần tâm linh, điều hành nền hành chính đạo và đại diện cho cộng đồng trong mối liên hệ với cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Tuy nhiên, thực tiễn biến động xã hội đã làm nảy sinh nhiều vấn đề: một bộ phận người Khmer rời bỏ tôn giáo truyền thống, tập quán để chuyển sang tôn giáo khác hoặc rời phum sóc đi nơi khác, định cư nước ngoài; một số ít tu sĩ trẻ chưa nhận thức đầy đủ pháp luật, thiếu tinh thần hợp tác hoặc tham gia các hội nhóm đi ngược lại lợi ích quốc gia; xuất hiện mâu thuẫn cục bộ giữa Trụ trì và Ban Quản trị tại một số cơ sở; nhận thức của một bộ phận cán bộ về vai trò của tu sĩ còn lúng túng, chưa thống nhất; việc triển khai Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 về giảng dạy chữ Khmer, chữ Pali và giáo lý tại các điểm chùa ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Các thế lực thù địch và tổ chức phản động lưu vong ("Khmer Campuchia Krôm") triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, gây rối an ninh trật tự (điển hình như các vụ việc tại Trà Vinh năm 2007, Sóc Trăng năm 2007, An Giang năm 2008). Trong bối cảnh đó, vai trò của tu sĩ PGNTK chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống ở cấp độ chuyên đề lý luận, tạo nên khoảng trống khoa học cần giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay, chỉ ra mặt tích cực và hạn chế, từ đó đề ra hệ thống giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của tu sĩ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ đặc điểm tình hình vùng Tây Nam Bộ và Phật giáo Nam tông Khmer.
- Phân tích vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ.
- Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội người Khmer tại địa bàn nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu
- Đặc điểm và tình hình PGNTK ở Tây Nam Bộ hiện nay như thế nào?
- Vai trò của tu sĩ PGNTK đối với đời sống xã hội trong cộng đồng người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay ra làm sao?
- Những vấn đề cần giải quyết trong hoạt động của tu sĩ PGNTK hiện nay là gì?
- Giải pháp nào để tu sĩ PGNTK tiếp tục phát huy vai trò của mình đối với cộng đồng người Khmer trong bối cảnh hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu
- Tu sĩ PGNTK thực sự có vai trò đối với cộng đồng người Khmer không?
- Phải chăng, hoạt động của tu sĩ PGNTK đang có những vấn đề bất cập cần giải quyết?
- Cần phải có chính sách đặc thù gì đối với tu sĩ PGNTK để các tu sĩ có điều kiện phát huy vai trò của mình trong cộng đồng người Khmer?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến nay (tính từ thời điểm ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ-me).
- Phạm vi không gian: Một số tỉnh, thành phố thuộc vùng Tây Nam Bộ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu theo hai nhóm nội dung chính:
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả, công trình và năm công bố |
Nội dung chính được điểm luận |
| Nhóm công trình liên quan đến vấn đề dân tộc Khmer |
• Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên; Châu Đạt Quan (Lê Hương dịch, 1973), Chân lạp phong thổ ký. • Phan An (1980, 1984, 1985, 2009). • Mạc Đường (1981); Huỳnh Lứa chủ biên (1987, tái bản 2017). • Viện Khoa học Xã hội tại TP.HCM (1991), Vấn đề Dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long (các tác giả: Mạc Đường, Đinh Văn Liên, Phan An, Phan Thị Yến Tuyết, Phan Văn Dốp, Nguyễn Việt Cường). • Nguyễn Khắc Cảnh (2000). • Cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ (2000-2001). • Nguyễn Mạnh Cường (2002); Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Minh Ngọc (2004). • Đinh Lê Thư chủ biên (2005). • Phạm Văn Thới chủ nhiệm (2006). • Nguyễn Hoàng Sơn (2007). • Phạm Thị Phương Hạnh (2012). • Nguyễn Thuận Quý (2015). • Thạch Voi (1988), Trường Lưu (1993), Đoàn Thanh Nô (2002), Huỳnh Thanh Quang (2011). |
Khái quát lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ; quá trình hình thành, cư trú, cơ cấu dân số tộc người; quan hệ tộc người (Việt, Khmer, Hoa, Chăm); cấu trúc xã hội phum sóc; đời sống kinh tế thuần nông; văn hóa vật chất và tinh thần; truyền thống đấu tranh cách mạng; thực trạng giáo dục song ngữ và chính sách giảm nghèo vùng đồng bào Khmer. |
| Nhóm công trình liên quan đến Phật giáo Nam tông Khmer |
• Sơn Phước Hoan chủ nhiệm (1999-2000). • Trần Hồng Liên (2000, 2018). • Vụ Văn hóa dân tộc (2004), Kỷ yếu hội thảo (các bài viết của Ngô Văn Doanh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Mạnh Cường). • Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại). • Nguyễn Tiến Dũng (2014). • PGS.TS Hoàng Minh Đô chủ nhiệm (2014). • Trang Thiếu Hùng. • Nguyễn Nghị Thanh. • Các bài báo tạp chí của: Phan An (2003), Nguyễn Xuân Nghĩa (2003), Dương Nhơn (2008), Danh Xương (2002), Hoàng Minh Đoàn (2006), Trần Văn Ánh (2008), Nguyễn Đức Dũng và Danh Lắm (2013), Cao Xuân Phổ (2004). |
Phân tích chức năng xã hội của PGNT; vai trò của ngôi chùa như trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục và lễ hội; nghi thức tang ma, giáo lý Theravada; tác động của Phật giáo đến tư tưởng, đạo đức; thực trạng biến động tôn giáo, hiện tượng cải đạo sang đạo Tin Lành; vấn đề tu học, hoàn tục của thanh thiếu niên Khmer; các chính sách của Nhà nước đối với chức sắc, nhà tu hành và cơ sở thờ tự PGNTK. |
Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án:
Trước đây, tác giả đã thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài "Vai trò của sư sãi Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở thành phố Cần Thơ hiện nay" tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tuy nhiên công trình này chỉ khảo tả trong phạm vi hẹp tại một địa phương. Tổng quan tài liệu cho thấy các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận PGNTK ở góc độ văn hóa, lịch sử, nhân học hoặc khảo sát vai trò của thiết chế ngôi chùa một cách chung nhất; chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và mang tính chuyên đề lý luận về vai trò, vị trí và hoạt động thực tiễn của đội ngũ tu sĩ PGNT trên toàn địa bàn vùng Tây Nam Bộ trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khung lý thuyết
Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Luận án vận dụng các khung lý thuyết chuyên ngành:
- Lý thuyết thực thể tôn giáo:
- Mô hình "Tứ tố" (bốn yếu tố): Dựa trên quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn (1995, 2003), tiếp thu từ K. Marx, É. Durkheim, Y. Lambert, G. Plekhanov; cấu trúc một tôn giáo bao gồm 4 thành tố nội tại: niềm tin; nội dung/giáo lý, giáo luật; nghi lễ/thực hành đức tin; tổ chức giáo hội/cộng đồng tín đồ.
- Mô hình "Ngũ tính" (năm tính chất): Dựa trên các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Tuấn (2014) kế thừa Jean Delumeau (1992) và Régis Debray (2002). Lý thuyết xem tôn giáo là một tiểu hệ thống trong tổng thể xã hội, bao gồm 5 đặc tính: tính lịch sử, tính tập thể, tính vật thể (tài liệu), tính biểu tượng, tính trải nghiệm và nhạy cảm. Tôn giáo vận hành và tương tác đa chiều với 4 tiểu hệ thống khác: kinh tế, văn hóa, nhà nước - thể chế chính trị, hệ sinh thái và môi trường.
- Lý thuyết thế tục hóa: Phân tích theo các nghiên cứu của Nguyễn Phú Lợi (2018), Nguyễn Thị Minh Ngọc, tiếp thu quan điểm từ Auguste Comte, Herbert Spencer, Karl Marx, Émile Durkheim, Max Weber, Sigmund Freud. Luận án tiếp cận thế tục hóa đương đại trên 2 phương diện (thể chế chính trị và thực hành niềm tin), 3 cấp độ (cá nhân, tổ chức, xã hội) và 3 mô hình vận động; nhận diện thế tục hóa không làm tôn giáo biến mất mà thúc đẩy tôn giáo điều chỉnh để thích nghi, giảm tính thiêng khép kín, nhập thế và tham gia vào đời sống xã hội.
- Các lý thuyết bổ trợ: Lý thuyết cấu trúc - chức năng của tôn giáo, lý thuyết vùng văn hóa, lý thuyết hành động xã hội, sử học tôn giáo và xã hội học tôn giáo.
Khái niệm công cụ
- Vùng (Vùng Tây Nam Bộ): Bộ phận giới hạn của không gian địa lý gồm 13 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Cửu Long.
- Tôn giáo: Định nghĩa theo Từ điển Tôn giáo của Marguerite-Marie Thiollier (Lê Diên dịch) và khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
- Phật giáo: Hệ thống tôn giáo do Đức Phật Thích Ca sáng lập, hướng dẫn sự thực hành của bản thân để giải thoát khổ đau, trau dồi đạo đức, thiền tập và trí tuệ.
- Hệ phái Nam tông và Bắc tông: Hai tông phái có sự tương đồng căn bản: công nhận Đức Phật là bậc đạo sư khai ngộ (không phải đấng sáng tạo tối cao); hành trì Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi, Thập nhị nhân duyên, Tam pháp ấn (Khổ, Vô thường/Không, Vô ngã) và tiến trình tu tập Giới - Định - Tuệ.
- Đời sống xã hội: Dựa trên quan niệm của Lương Văn Úc, luận án tiếp cận đời sống xã hội trên 3 phương diện: kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa - xã hội.
- Tu sĩ: Trong PGNTK, tu sĩ (nhà sư, tăng sĩ, sư sãi, chư tăng) là người xuất gia tu học, tuân thủ giới luật Phật giáo và Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, không phải là người tu khổ hạnh tránh xa trần thế mà vẫn tham gia công tác xã hội, gìn giữ tiếng nói, chữ viết và tổ chức văn hóa cộng đồng.
- Dân tộc Khmer: Luận án thống nhất sử dụng tên gọi "Khmer" theo tinh thần Chỉ thị số 117/CT-TW ngày 29/9/1981 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (thay cho tên gọi "Khơ-me" theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê).
- Phật giáo Nam tông Khmer: Thuật ngữ định danh hệ phái Phật giáo Theravada của người Khmer tại Nam Bộ trong cơ cấu Giáo hội Phật giáo Việt Nam (phân biệt với PGNT của người Kinh), sau sự kiện Đại hội Liên hữu Phật giáo Thế giới (WFB) tại Sri Lanka năm 1950.
Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Tiếp cận liên ngành; tiếp cận dân tộc học và tôn giáo học (dùng lý thuyết thực thể tôn giáo để phân tích mối tương tác giữa tu sĩ và cộng đồng); tiếp cận sử học (quá trình hình thành cộng đồng Khmer và PGNTK); tiếp cận triết học (tôn giáo như thành tố kiến trúc thượng tầng tác động đến hạ tầng kinh tế và xã hội).
- Phương pháp thực tế: Phương pháp hệ thống - cấu trúc; phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử - logic; phân tích và tổng hợp; thống kê; so sánh; quan sát; điền dã; phỏng vấn; khảo sát; tham gia.
- Nguồn tư liệu: Các văn bản nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; các công trình nghiên cứu chuyên ngành; số liệu thống kê kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ và kết quả điều tra điền dã, khảo sát thực tế tại các cơ sở chùa Khmer.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được kết cấu thành 4 chương, 10 tiết (ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục):
CẤU TRÚC LUẬN ÁN (4 CHƯƠNG, 10 TIẾT)
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài
- Luận điểm: Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu lịch sử, dân tộc học và tôn giáo học liên quan đến người Khmer và PGNTK; xác định vị trí nghiên cứu của đề tài; xây dựng khung lý thuyết (thực thể tôn giáo, thế tục hóa) và xác lập hệ thống khái niệm công cụ.
- Phát hiện: Chỉ ra tính đơn lẻ, cục bộ của các nghiên cứu trước đó; làm rõ cơ sở áp dụng mô hình "Tứ tố" (Đặng Nghiêm Vạn) kết hợp mô hình "Ngũ tính" (Nguyễn Quốc Tuấn) cùng lý thuyết thế tục hóa để khảo sát cấu trúc thực thể tôn giáo và chức năng nhập thế của tu sĩ PGNTK.
Chương 2: Khái quát Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ
- Luận điểm và số liệu:
- Điều kiện địa lý, tự nhiên: Vùng Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh thành (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang); diện tích gần 4 triệu ha (gần 40.000 km²); bờ biển dài 743 km, vùng lãnh hải rộng lớn.
- Nhân khẩu học và dân tộc: Dân số toàn vùng đạt gần 18 triệu người (20% cả nước); tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm 57,2% (khoảng 10,3 triệu người). Tỷ lệ các dân tộc: người Kinh chiếm khoảng 90%; người Khmer có trên 1,2 triệu người (chiếm 7%); người Hoa khoảng 192.000 người (chiếm 1,1%); người Chăm khoảng 15.000 người; các dân tộc khác khoảng 4.000 người.
| Thành phần dân tộc tại Tây Nam Bộ |
Quy mô dân số (người) |
Tỷ lệ trong dân số vùng (%) |
| Dân tộc Kinh |
~16.200.000 |
~90,0% |
| Dân tộc Khmer |
> 1.200.000 (đến 1.300.000) |
~7,0% |
| Dân tộc Hoa |
~192.000 |
~1,1% |
| Dân tộc Chăm |
~15.000 |
< 0,1% |
| Các dân tộc khác |
~4.000 |
< 0,1% |
| Tổng cộng toàn vùng |
Gần 18.000.000 |
100% |
- Đặc điểm kinh tế - xã hội: Kinh tế vùng giai đoạn 2011-2017 tăng trưởng GDP bình quân đạt 8,87%/năm; kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt trên 12,3 tỷ USD (chiếm 8,2% cả nước, tăng trưởng bình quân 14,7%/năm); tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,54%. Tuy nhiên, chất lượng lao động thấp, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
- Tâm lý tộc người Khmer: Nền kinh tế thuần nông; lối sống thiên về giá trị tinh thần hơn vật chất, hướng về việc tích đức cho kiếp sau để đạt cõi Niết Bàn; dành nhiều của cải đóng góp xây dựng chùa.
- Bối cảnh tôn giáo đa dạng: Sự đan xen giữa các tôn giáo truyền thống du nhập (Phật giáo Bắc tông, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo Islam, Ấn Độ giáo) và các tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Minh Sư đạo).
- Lịch sử du nhập và quy mô PGNTK: Phật giáo truyền vào cộng đồng Khmer trên 2000 năm (Phật lịch 234, từ thời cảng cổ Óc Eo với 2 vị Thánh tăng Sonathera và Uttaratthera). Toàn vùng hiện có trên 450 ngôi chùa PGNTK. Năm 1981, PGNTK gia nhập tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, duy trì hoạt động ổn định qua 8 nhiệm kỳ (38 năm tính đến thời điểm nghiên cứu).
- Thực trạng an ninh, quốc phòng: Tồn tại các hoạt động chống phá của các tổ chức phản động lưu vong ("Khmer Campuchia Krôm"), lợi dụng Tuyên ngôn về quyền của người bản địa để kích động khiếu kiện, gây rối: vụ việc tu sĩ trẻ gây rối tại Công an huyện Tiểu Cần, Trà Vinh (19/01/2007); vụ kích động tăng sinh Trường Bổ túc văn hóa Pali trung cấp Nam Bộ gây rối tại Sóc Trăng (08/02/2007); vụ kích động đồng bào bao chiếm đất và chống đối cán bộ tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang (đầu năm 2008); các hoạt động chống phá liên quan đến phân giới cắm mốc Việt Nam - Campuchia.
Chương 3: Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội người Khmer Tây Nam Bộ: thực trạng và một số vấn đề đặt ra
- Luận điểm và phát hiện:
- Đánh giá vai trò của tu sĩ PGNTK trên 3 phương diện cơ bản:
- Kinh tế - xã hội: Vận động tín đồ tích cực lao động sản xuất, tham gia xóa đói giảm nghèo, quyên góp từ thiện, xây dựng đời sống nông thôn.
- Chính trị: Là cầu nối giữa tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc với đồng bào Khmer; tham gia giữ gìn an ninh trật tự, khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Văn hóa - xã hội: Tổ chức các nghi lễ tôn giáo, bảo tồn phong tục tập quán, duy trì việc giảng dạy chữ Khmer, chữ Pali, truyền thụ tri thức văn học nghệ thuật, điêu khắc, kiến trúc dân tộc tại các điểm chùa.
- Những hạn chế và vấn đề đặt ra:
- Tâm lý tự bằng lòng, an phận, đầu tư tài sản quá mức vào tôn giáo ảnh hưởng đến kinh tế hộ gia đình;
- Tình trạng một bộ phận người Khmer chuyển đổi tôn giáo sang đạo Tin Lành do tác động kinh tế và hạn chế trong công tác quản lý xã hội;
- Số lượng thanh thiếu niên xuất gia tu học có xu hướng giảm, thời gian tu ngắn; trình độ Phật học và thế học của một số sư sãi còn hạn chế;
- Một số ít tu sĩ trẻ thiếu hiểu biết pháp luật, bị các tổ chức cực đoan xúi giục tham gia hội nhóm chống đối chính quyền;
- Tình trạng mâu thuẫn nội bộ giữa Trụ trì chùa và Ban Quản trị chùa làm ảnh hưởng đến sự đoàn kết cộng đồng;
- Nhận thức của cán bộ cơ sở về công tác vận động tu sĩ chưa đồng đều; việc thực hiện Nghị định số 82/2010/NĐ-CP về dạy chữ Khmer, Pali còn nhiều vướng mắc.
Chương 4: Giải pháp và kiến nghị phát huy vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông đối với cộng đồng người Khmer Tây Nam Bộ trong thời gian tới
- Luận điểm: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và các kiến nghị chính sách nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực, nâng cao vai trò của tu sĩ PGNTK:
- Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền và đoàn thể về vị trí của PGNTK và vai trò của tu sĩ;
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chính trị, Phật học và thế học cho đội ngũ tu sĩ, tăng sinh;
- Tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách đặc thù đối với PGNTK; thực hiện hiệu quả Nghị định số 82/2010/NĐ-CP trong việc hỗ trợ dạy chữ Khmer, Pali và giáo lý;
- Củng cố quy chế hoạt động, giải quyết dứt điểm mâu thuẫn giữa Trụ trì và Ban Quản trị chùa;
- Xây dựng lực lượng cốt cán trong giới tu sĩ nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch;
- Đẩy mạnh các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của tu sĩ PGNTK trong đời sống xã hội ở vùng Tây Nam Bộ, góp phần bổ sung cứ liệu cho lý thuyết tôn giáo học đương đại về vai trò của giới tu sĩ trong các cộng đồng tộc người thiểu số.
- Cung cấp cơ sở lý luận khoa học giúp nhận diện tôn giáo vừa là hình thái ý thức xã hội, vừa là một thực thể xã hội vận động trong cấu trúc tương tác với kinh tế, chính trị, văn hóa và môi trường vùng Tây Nam Bộ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn làm căn cứ khoa học cho các cơ quan Đảng, Nhà nước trong việc bổ sung, hoàn thiện thể chế và chính sách đặc thù đối với Phật giáo Nam tông Khmer và giới tu sĩ PGNTK.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tích cực của tu sĩ, hạn chế các yếu tố tiêu cực, giải quyết các bất cập trong quản lý cơ sở thờ tự và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thời gian từ năm 1991 (thời điểm ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW) đến nay và tập trung khảo sát không gian tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm có đông đồng bào Khmer tại vùng Tây Nam Bộ. Do giới hạn nguồn tư liệu và tính chất phức tạp của địa bàn, một số khía cạnh so sánh liên vùng hoặc phân tích tâm lý cá nhân của từng nhóm tu sĩ chưa thể bao quát toàn diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh vai trò của tu sĩ PGNTK ở Nam Bộ với tu sĩ Phật giáo Theravada tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (như Campuchia, Thái Lan, Lào, Myanmar); tiếp tục đi sâu khảo sát định lượng về sự biến đổi nhận thức xã hội của giới tu sĩ trẻ trước tác động của truyền thông số và internet.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Tôn giáo học, Dân tộc học, Lịch sử, Xã hội học và Văn hóa học;
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác dân tộc, tôn giáo trong hệ thống cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Tôn giáo các tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ;
- Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tại các địa phương.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Khung lý thuyết phân tích thực thể tôn giáo (kết hợp mô hình "Tứ tố" và "Ngũ tính") và lý thuyết thế tục hóa;
- Hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện về người Khmer và PGNTK;
- Các luận cứ thực tiễn và giải pháp chính sách quản lý nhà nước đối với tổ chức, chức sắc, nhà tu hành và cơ sở thờ tự PGNTK.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay. Phạm vi thời gian tính từ năm 1991 (khi có Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư khóa VI) đến thời điểm nghiên cứu; phạm vi không gian là các tỉnh, thành phố thuộc vùng Tây Nam Bộ.
2. Luận án vận dụng những mô hình lý thuyết cụ thể nào để phân tích thực thể tôn giáo?
Luận án vận dụng hai mô hình: mô hình "Tứ tố" của Đặng Nghiêm Vạn (4 yếu tố: niềm tin; nội dung/giáo lý giáo luật; nghi lễ; tổ chức/cộng đồng) và mô hình "Ngũ tính" của Nguyễn Quốc Tuấn (5 đặc tính: lịch sử, tập thể, vật thể, biểu tượng, trải nghiệm/nhạy cảm) để xem xét tôn giáo như một tiểu hệ thống tương tác với các tiểu hệ thống kinh tế, văn hóa, chính trị và môi trường.
3. Tỷ lệ dân số và quy mô cơ sở thờ tự của Phật giáo Nam tông Khmer tại Tây Nam Bộ được ghi nhận ra sao?
Toàn vùng Tây Nam Bộ có gần 18 triệu người, trong đó người Khmer có trên 1,2 triệu người (chiếm khoảng 7% dân số vùng). Hệ thống Phật giáo Nam tông Khmer tại đây có hơn 450 ngôi chùa, sinh hoạt trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1981.
4. Những vụ việc phức tạp về an ninh trật tự nào liên quan đến sự kích động của các tổ chức phản động được luận án dẫn chứng?
Luận án dẫn chứng các vụ việc do các tổ chức phản động ("Khmer Campuchia Krôm") kích động: vụ tu sĩ trẻ gây rối tại huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (19/01/2007); vụ kích động tăng sinh Trường Bổ túc văn hóa Pali trung cấp Nam Bộ tại thị xã Sóc Trăng (08/02/2007); vụ bao chiếm đất và đập phá trụ sở xã tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang (đầu năm 2008).
5. Luận án phân tích đời sống xã hội dựa trên những phương diện nào?
Dựa trên quan niệm của Lương Văn Úc, luận án tiếp cận và phân tích đời sống xã hội trên 3 phương diện chính: đời sống kinh tế - xã hội, đời sống chính trị và đời sống văn hóa - xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học với đề tài "Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay" là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về vị trí, chức năng và hoạt động thực tiễn của đội ngũ tu sĩ PGNTK từ năm 1991 đến nay. Bằng việc kết hợp phương pháp luận mác xít với các lý thuyết tôn giáo học đương đại (lý thuyết thực thể tôn giáo, lý thuyết thế tục hóa) và phương pháp nghiên cứu liên ngành, luận án đã làm rõ bức tranh toàn diện về vai trò tích cực cũng như những hạn chế, thách thức đang đặt ra đối với tu sĩ Khmer trong đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn giá trị, đóng góp thiết thực cho việc bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước tại địa bàn chiến lược Tây Nam Bộ.