phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. KHÁI QUÁT CHUNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Khi nghiên cứu về từ thiện xã hội trong Phật giáo, chúng ta thường hay bắt gặp các khái niệm: bố thí – quan niệm của Phật giáo về hành động (hoạt động) từ thiện xã hội; nhập thế - từ thiện xã hội được coi là biểu hiện tiêu biểu của tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này ngoài khái niệm hoạt động từ thiện xã hội sẽ đề cập đến các khái niệm bố thí, Phật giáo nhập thế.
+ Bố thí: Theo chiết âm Hán Việt, bố (布) = Phân tán, ban phát cho khắp nơi, cho hết - thí (施) = giúp, cho. Trong Phật giáo, được xem là hạnh quan trọng nhất trong Phật pháp. Bố thí là một trong sáu hạnh Ba-la-mật- đa (Lục độ). Bố thí với nghĩa ban bố, trao tặng mọi sự cần thiết cho người khác, chính vì thế bố thí không chỉ đem lại lợi ích cho người nhận sự bố thí mà cho cả người dâng tặng, thực hành bố thí.
Bởi bố thí có công năng tiêu trừ những tư tưởng ích kỷ, phát triển tư tưởng vị tha. Bố thí là phương pháp tu hành thực hành tư tưởng từ bi của Phật giáo, có công năng đưa người và mình đến bến bờ giác ngộ. Trong kinh sách Phật giáo có ba loại bố thí: Tài thí, pháp thí và Vô úy thí. Tài thí: nghĩa là đem vật chất thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác.
Những tài sản ấy bao gồm: tiền bạc, của cải, vật chất,… thậm chí cả thân mạng mình. Tài thí cũng được chia thành: Nội tài, ngoại tài. Pháp thí: loại hình bố thí phi vật chất: đem những chân lý, những lời dạy, những 11 phương pháp tu hành chân chính giúp người khác cũng đạt được giác ngộ, giải thoát. Vô úy thí: làm cho người khác vững tâm, không sợ sệt.
+ Phật giáo nhập thế: Khái niệm “Nhập thế” thường được sử dụng với nghĩa là sự tham gia của các chức sắc, tín đồ tôn giáo vào các hoạt động của đời sống xã hội. Trong bài viết: “Phật giáo nhập thế - Tiếp cận từ tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông”, tác giả Lại Quốc Khánh sau khi phân tích các quan niệm nhập thế dưới các góc độ khác nhau, thời điểm khác nhau, tác giả đi đến phân tích khái niệm Phật giáo nhập thế theo quan niệm của thiền sư Nhất Hạnh: “Phật giáo nhập thế được hiểu là Phật giáo đi vào cuộc đời, là Nhân gian Phật giáo, Phật giáo ở trong cuộc đời và hiện hữu trong cuộc sống thường nhật. Đạo chính là đời, chứ không xa đời, không ở ngoài đời. Nhập thế như thế là bản chất tự thân của Phật giáo”.
Và đi đến nhận định “quan niệm về Phật giáo nhập thế hết sức phong phú, thuật ngữ chuyên môn được sử dụng cũng đa dạng, nhưng nhìn chung, các quan niệm đều có điểm chung ở tinh thần tự độ – độ tha, tự giác – giác tha, dùng Phật pháp để giải quyết các vấn đề xã hội và nhân sinh, làm cho Phật pháp thấm sâu, trở thành nguyên lý tinh thần của con người hiện thực trong xã hội. Ở các quốc gia, dân tộc khác nhau, mức độ nhập thế của Phật giáo có khác nhau, song tinh thần chung đều là như vậy” [Xem https://tnti.vn/phat-giao- nhap-the-tiep-can-tu-tu-tuong-phat-giao-nhap-the-cua-tran-nhan-tong]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, thì khái niệm “nhập thế” có nghĩa là “vào gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời” [Nguyễn Như Ý chủ biên (1999), tr. Như vậy, Phật giáo nhập thế được hiểu là tinh thần sẵn sàng dấn thân vào đời sống, đi vào cuộc đời, đưa giáo lý Phật giáo vào đời sống, làm lợi lạc cho đời sống nhân sinh.
12 + Từ thiện: Từ thiện vốn là một từ Hán Việt, theo “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu, “từ thiện” được kết hợp giữa hai từ: “từ” có nghĩa là lành, chu cấp cứu giúp cho kẻ túng thiếu, khốn cùng và “thiện” có nghĩa là thiện, lành [Thiều Chửu (1993), tr. Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học, định nghĩa: “Từ thiện là có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó để làm phúc” [Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999)]. + Hoạt động từ thiện xã hội: Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Hoạt động từ thiện xã hội là những hoạt động được thực hiện nhằm giúp đỡ, chia sẻ khó khăn với người khác xuất phát từ tình thương, trên tinh thần tự nguyện, không ép buộc, không mong muốn phải được đáp lại. Hoạt động từ thiện xã hội đúng cách sẽ góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Khái quát chung về hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo Việt Nam 1. Từ thiện xã hội trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Trong giáo lý Phật giáo, hành trì như Lục độ Ba-la-mật và Tứ nhiếp pháp của hàng Bồ-Tát đều có hạnh “Bố thí”. Về lục độ Ba-la-mật thì gồm có 6 đức hạnh: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh Tấn, Thiền định, và Trí tuệ. Về Tứ nhiếp pháp thì gồm có: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, và Đồng sự.
Bố Thí là một đức hạnh tối quan trọng mà Đức Phật thường giảng dạy và khuyên nhủ các đệ tử nên cố gắng tu tập. Trong kinh sách Phật giáo, ghi lại rất nhiều lời dạy của đức Phật về hạnh bố thí. Kinh Vô Lượng Thọ dạy rằng nếu là Phật tử, nên cúng dường nên cúng dường những người tật bệnh như cúng dường Chư Phật không khác. Trong tám món phước điền, phước điền thăm bệnh là đứng đầu.
Kinh Tăng Nhất A Hàm dạy về lòng bố thí: Nếu có người bần cùng, 13 không của bố thí, khi thấy kẻ khác bố thí thì nên khởi tâm tùy hỷ (vui vì việc lành của người khác), phước báu tùy hỷ ngang với phước báu của kẻ bố thí không khác. Kinh Lục Phương Lễ Đức Phật giảng về ích lợi của bố thí, khi được hỏi về “Bố thí và giữ giới được những quả báo gì?”, đức Phật trả lời: “Tái sinh về cõi trời hoặc cõi người được hưởng an vui”. Đức Phật cũng dạy về phương pháp bố thí, bố thí mà không thanh tịnh, là sự bố thí không tròn vẹn: trước nghĩ muốn cho nhiều, đến khi cho lại rút bớt; chọn vật xấu đem cho người, vật tốt giữ lại cho mình; đã cho xong, sinh tâm hối tiếc của đã cho. Đức Phật cũng dạy về các hình thức bố thí trong kinh Phân Biệt Nghiệp Báo: Đem của bố thí làm cho chúng sinh ưa mến.
Đem pháp bố thí thường được thế gian kính trọng. Thí của, được kẻ ngu mến. Thí pháp, được người trí trọng. Thí của phá trừ cái nghèo cùng về của cải.
Thí pháp phá trừ cái nghèo cùng về công đức. Cho của là vụ cho hiện tại, cho pháp là cho vui tương lai. Bố thí trong Phật giáo chính là thực hiện tư tưởng từ bi bao la, rộng lớn của Phật giáo. Tư tưởng từ bi của Phật giáo cùng tâm lành, mong muốn giúp đỡ người khác phù hợp với tư tưởng, lối sống “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng” của người dân Việt Nam.
Chính vì thế nên ngay từ những ngày đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam, hai tư tưởng này đã hòa quyện vào với nhau, vì vậy người Việt rất chăm chỉ thực hành hạnh bố thí. Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, tác giả Nguyễn Lang phân tích về những sinh hoạt Phật giáo ở Việt Nam ở những thế kỷ đầu Phật giáo du nhập: “Người Giao chỉ chắc chắn đã đọc tụng bài tam quy bằng tiếng Phạn, mà bất cứ người phật tử Ấn nào cũng thuộc. Họ cũng đã học cúng dường vị tăng sĩ, thờ Phật, lạy Phật, làm phúc thiện, bố thí. Bố thí ở đây có nghĩa là cho người đói ăn cơm.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành tại Giao Châu trong thế kỷ 14 thứ hai, nói đến công đức đem cơm cho người khác ăn: “Cho một trăm người ác ăn cơm có công đức, nhưng công đức ấy không nhiều bằng cho một người hiền lành ăn cơm…” [Nguyễn Lang (2014), tr. Bố thí đem lại công đức lớn: “Đem cơm cho người đói ăn, công đức cũng rất lớn. Sạ Dung cuối thế kỷ thứ hai cũng còn xem chuyện cho người đói ăn là điều quan trọng nhất trong đạo Phật. Sau khi làm cách mạng, ông giữ lấy lúa gạo, và cho nấu cơm cùng thức ăn bày ra đường có tới hàng mười dặm, để người đói ai muốn ăn thì ăn.
Có hàng vạn người tới ăn một lúc” [Nguyễn Lang (2014), tr. Hay “Chắc hẳn trong khi dạy về đạo lý từ bi và công đức, các Tang Môn cũng đã dạy tiết dục, bỏ bớt những hưởng thụ vật chất cho riêng mình để bố thí cho kẻ khốn khó đói khổ” [Nguyễn Lang (2014), tr. Từ sự phân tích trên cho thấy, ngay từ những ngày đầu du nhập vào Việt Nam, người Việt Nam khi đó chưa hiểu nhiều về các giáo lý uyên thâm khác của Phật giáo như vô ngã, vô thường thì giáo lý về bố thí, về làm việc thiện đã được nhắc đến nhiều và thực hành nhiều. Sang thời Lý – Trần, thời kỳ Phật giáo phát triển rực rỡ, những hoạt động từ thiện, thực hành hạnh “bố thí” của Phật giáo càng rõ nét, thể hiện đậm nét tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.
“Do sự phát triển của đạo Phật, nên các chùa thời này đều có cơ sở vật chất rất lớn, bao gồm rất nhiều ruộng đất và tài sản. Một điều đáng quý là nguồn tài sản của các chùa hầu hết dùng để cứu cấp dân nghèo vào những năm mất mùa. Cửa chùa cũng chính là nơi cưu mang những người hoạn nạn, cơ nhỡ không nơi nương tựa” [Trần Đức Cường, Nguyễn Thị Thơm (2020), tr. Thời Lý – Trần, các vị vua – người đứng đầu đất nước lại là những người thấm nhuần tư tưởng, tinh thần Phật giáo, chính vì vậy với sự ảnh hưởng của Phật giáo, rất nhiều chính sách, rất nhiều hành động trong hoạt động trị nước thể hiện tinh thần từ bi, thực 15 hành hạnh bố thí của Phật giáo.
Tinh thần từ bi của Phật giáo, thực hành hạnh bố thí, vua Trần Nhân Tông đã vô cùng xót thương với những kẻ bị giam cùm trong ngục nên đã ban chiếu chỉ phát chăn ấm và cấp cơm ăn ngày hai bữa cho tù nhân.