mở đầu cho bước ngoặt phát triển nhận thức về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tỉnh thần của một bộ phận Nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới. 13 Nghị định số 69/NĐ-HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Quy định về các hoạt động tôn giáo". Ngày 4/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tô chức bộ máy của Ban Tôn giáo của Chính phủ. Nghị định 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo; Quyết định số 125/QD- TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 18/6/2003 về việc phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác tôn giáo.
Ngày 12/3/2004, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25- NQ/TW về công tác tôn giáo. Đến nay, Nghị quyết này vẫn được xem là “kim chỉ nam” cho công tác tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Nghị quyết 25- NQ/TW khang định những chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo. Tín ngưỡng và tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối Đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật được bảo đảm. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khô pháp luật, bình dang trước pháp luật. Nghị quyết 25 đã phát triển và bổ sung thêm 3 nội dung mới so với Nghị quyết 24: (1) Khang định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh than của một bộ phận nhân dan, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta (xác định vai trò hiện diện của tôn giáo song hành cùng dân tộc).
Cùng với những thành tựu trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, nhận thức về ASXH cũng được tiến thêm một bước mới. Đại hội đại biéu toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII của Dang đã xác định dam bảo là vì con người và là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu đảm bảo ASXH thống nhất với nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội và đều nhằm phát huy sức mạnh nhân tố con người, phục vụ con người. Thực hiện ASXH góp phần "tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyền dần sang một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", tạo tiền đề vững chắc cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn ở đầu thế kỷ XXI [15; 35].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chủ trương này đã trở thành một định hướng chiến lược dé phát triển bền vững đất nước: “.Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”, " Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội, đa dạng hóa hình thức bảo hiểm.; xây dựng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động và vệ sinh lao động”; “Phát triển nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiễn tới bảo hiểm y tế toàn dân; phát triển mạnh các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm y tế cộng đồng” [16; 45]. Một dấu mốc quan trọng phải ké tới nữa, đó là ngày 18/6/2004, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Tiếp tục thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, Luật Tín ngưỡng tôn giáo được Quốc hội khóa XIV nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 18/11/2016 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số: 12/2016/L-CTN ngày 01/12/2016 công bố Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là sự cụ thể hóa quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, thé hiện nhất quán chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng cụ 15 thể hóa những quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến quyên tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Những nội dung mới của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng được bổ sung để tạo sự tương thích với luật pháp quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế, ký kết và thi hành nhiều hiệp định. Qua thực tế, Nhà nước đã ban hành các quy định về tín ngường và tự do tín ngưỡng của nhân dân. Tat cả moi người đều có quyền về tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tốn giáo mà được pháp luật bảo vệ.
Những quyền này được pháp luật thống nhất và quản lý, các hoạt động tín ngưỡng phải phù hợp với truyền thống, đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, đồng thời mọi người dân phải phát huy vai trò và trách nhiệm công dân của mình đề xây dựng đất nước, thực hiện góp phần xã hội hóa ASXH. Đến Dai hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Dang, van dé An sinh xã hội một lần tiếp tục được khang định: “Bao dam an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dé bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống” [13; tr 32]. Đảng, Nha nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc day tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Các chương trình, chính sách an sinh xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng cụ thé: về giải quyết việc làm, bảo dam thu nhập và giảm nghèo đã thúc day phát triển thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc hoặc tự tạo việc làm; các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nguồn lực ưu tiên cho huyện nghéo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc thiêu số; bảo hiểm xã hội đã có bước phát triển đáng kẻ, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện đã thu hút được nhiều người tham gia; các chính sách trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân.
Nhà nước không ngừng tăng đầu tư cho phát triển các dịch vụ cơ bản bao gồm giáo dục, 16 y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nông thôn, lao động khu vực phi chính thức và các đối tượng yếu thế khác. Đồng thời nguồn lực cho an sinh xã hội được xã hội hóa cao về mặt tài chính và tổ chức thực hiện. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đã huy động sự tham gia đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp và sự tham gia của người dân. Đại hội XII của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều thay đổi rõ nét.
Chính vì vậy, trong những năm tới, để thực hiện tốt an sinh xã hội, Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra một trong những phương hướng, nhiệm vụ đó là: Giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội. Cụ thé: Tạo cơ hội dé mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập. Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động. Huy động tốt nhất nguồn lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng. Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bat hợp lý. Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng.
Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý. Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động. Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến moi người dân; tạo điều kiện dé trợ giúp có hiệu quả cho tang lớp yếu thế, dé tôn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống.
Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động. Chuyên từ hỗ trợ nhân đạo sang bao đảm quyền an sinh xã hội của công dân. Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết 17 yếu.
Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo, nhân dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên,. Phát triển đa dang các hình thức từ thiện, day mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế.